
Quy hoạch kho số viễn thông, tên miền Internet là việc việc sắp xếp, phân bố không gian hoạt động của các loại tài nguyên viễn thông gồm kho số viễn thông, tài nguyên Internet. Trong đó, cơ quan lập quy hoạch kho số viễn thông là Cục Viễn thông - Bộ Thông tin và Truyền thông và cơ quan lập quy hoạch tài nguyên Internet là Trung tâm Internet Việt Nam - Bộ Thông tin và Truyền thông.
Nội dung quy hoạch kho số viễn thông gồm quy hoạch những nội dung sau: (1), mã đích quốc gia; (2), mã, số dịch vụ; (3), số thuê bao; (4), mã định tuyến kỹ thuật; (5), số dịch vụ khẩn cấp, cứu nạn cứu hộ của cơ quan công an, cứu hoả, cấp cứu; (6), mã, số phục vụ lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh.
Và nội dung quy hoạch tài nguyên Internet gồm quy hoạch tên miền Internet, quy hoạch địa chỉ IP và quy hoạch số hiệu mạng.
Dự thảo nêu rõ, cơ quan lập quy hoạch xây dựng nhiệm vụ lập quy hoạch trên cơ sở phân tích, đánh giá, dự báo về điều kiện, nguồn lực, bối cảnh phát triển, thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, mục tiêu, các định hướng ưu tiên phát triển ngành.
Nội dung nhiệm vụ lập quy hoạch: Căn cứ lập quy hoạch; quan điểm, mục tiêu lập quy hoạch; phạm vi, đối tượng, thời kỳ quy hoạch; xác định các nhiệm vụ trọng tâm của quy hoạch; dự báo nhu cầu phát triển trong kỳ quy hoạch; yêu cầu về nội dung, phương pháp lập quy hoạch; yêu cầu về sản phẩm quy hoạch (thành phần, số lượng, tiêu chuẩn, quy cách hồ sơ); thời hạn lập quy hoạch, kế hoạch lập quy hoạch và trách nhiệm của các cơ quan trong việc tổ chức lập quy hoạch.
Cơ quan lập quy hoạch xây dựng nhiệm vụ lập quy hoạch trình Bộ Thông tin và Truyền thông phê duyệt.
Sau khi được phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch, cơ quan lập quy hoạch xây dựng các nội dung của quy hoạch, tổ chức lấy ý kiến các đơn vị thuộc Bộ, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan về dự thảo quy hoạch.
Hồ sơ trình thẩm định quy hoạch gồm các tài liệu: tờ trình thẩm định, phê duyệt quy hoạch; dự thảo quyết định phê duyệt quy hoạch; bản tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo quy hoạch; bản chụp ý kiến góp ý và báo cáo đánh giá tác động (nếu có).
Thành phần Hội đồng thẩm định quy hoạch bao gồm Chủ tịch Hội đồng và các thành viên. Chủ tịch Hội đồng thẩm định quy hoạch là Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng phụ trách lĩnh vực. Thành viên của Hội đồng thẩm định bao gồm đại diện các Vụ, Cục, đơn vị thuộc Bộ và doanh nghiệp liên quan (nếu có). Cơ quan thường trực Hội đồng thẩm định là Vụ Pháp chế.
Hội đồng thẩm định quy hoạch làm việc theo chế độ tập thể và chịu trách nhiệm thẩm định, phê duyệt quy hoạch theo nhiệm vụ được giao. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan thường trực Hội đồng thẩm định tổ chức lấy ý kiến chuyên gia, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và tổ chức khác có liên quan trước khi trình Hội đồng thẩm định, phê duyệt quy hoạch. Hội đồng thẩm định quy hoạch tự giải tán sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
Cơ quan thường trực Hội đồng thẩm định có trách nhiệm tiếp nhận, nghiên cứu và xử lý hồ sơ, cung cấp hồ sơ trình thẩm định quy hoạch cho các thành viên của Hội đồng thẩm định nghiên cứu tham gia ý kiến; tổ chức họp Hội đồng thẩm định theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thẩm định; dự thảo biên bản cuộc họp Hội đồng thẩm định, dự thảo Báo cáo thẩm định quy hoạch và các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Hội đồng phân công.
Trong thời hạn là 10 ngày kể từ ngày Cơ quan lập quy hoạch gửi hồ sơ, Hội đồng thẩm định có trách nhiệm thực hiện thẩm định quy hoạch theo quy định pháp luật hiện hành. Trong thời gian 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết luận của Hội đồng thẩm định quy hoạch, Cơ quan lập quy hoạch chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ trình Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông phê duyệt quy hoạch.
Chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày quy hoạch được Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông phê duyệt, cơ quan lập quy hoạch có trách nhiệm công bố công khai toàn bộ nội dung của quy hoạch trên cổng thông tin điện tử Chính phủ, Cổng thông tin điện tử của Bộ Thông tin và Truyền thông, trên các phương tiện thông tin đại chúng; và thông qua các hội nghị, hội thảo phổ biến văn bản quy phạm pháp luật.




Khi chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc, Việt Nam có cơ hội lịch sử để trở thành điểm đến của sản xuất hiện đại, ứng dụng công nghệ cao. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam đang đối mặt với áp lực, thách thức lớn về khả năng giám sát hoạt động theo thời gian thực và đáp ứng các tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc ngày càng nghiêm ngặt từ thị trường quốc tế.
Nhu cầu bùng nổ từ trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo động lực tăng trưởng mạnh cho ngành chip nhớ toàn cầu. Hưởng lợi từ xu hướng này, hãng sản xuất chip nhớ Trung Quốc ChangXin Memory Technologies (CXMT) đã tăng hơn 500% ngay trong phiên chào sàn, vượt ICBC để trở thành doanh nghiệp có giá trị vốn hóa lớn nhất Trung Quốc đại lục…
Kết thúc phiên giao dịch ngày thứ Hai (27/7), Apple vượt qua Nvidia để giành lấy vị trí công ty niêm yết đắt giá nhất thế giới...
Trên khắp Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất đang đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Từ ngành điện tử, ô tô đến bán dẫn và công nghệ cao, các công cụ như mô phỏng, cộng tác trên nền tảng đám mây và thiết kế dựa trên dữ liệu đang trở thành nền tảng nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Một doanh nghiệp Nhật Bản vừa giới thiệu buồng làm mát cá nhân được ví như "tủ lạnh cho người", giúp hạ thân nhiệt người ngồi bên trong chỉ sau vài phút…
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 30-2026 phát hành ngày 27/07/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Những cam kết trong Nghị định thư Montreal đặt ra bài toán phải chuyển đổi công nghệ cho các doanh nghiệp lĩnh vực điều hòa không khí di động, không khí gia dụng; lĩnh vực thiết bị lạnh công nghiệp, lạnh thương mại. Dự án "Quản lý bền vững các chất được kiểm soát theo Nghị định thư Montreal" vừa chính thức được khởi động nhằm hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi, đáp ứng các cam kết quốc tế.