
“Theo Hiệp hội Sữa Việt Nam, trong hơn 10 năm qua, ngành sữa Việt Nam luôn đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 15%/năm và là ngành có tốc độ phát triển nhanh nhất trong ngành chế biến. Bởi vậy, “ngành sữa Việt Nam đang được xem ở “thời kỳ vàng”, là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp sản xuất sữa, các doanh nghiệp phụ trợ liên quan”, ông Robert Graves, Tổng giám đốc Công ty Tetra Pak Việt Nam - doanh nghiệp chuyên cung cấp công nghệ chế biến, đóng gói và bao bì cho các công ty sữa nội địa - nói về tiềm năng ngành sữa Việt Nam.
Ông có thể phân tích chi tiết hơn về “thời kỳ vàng” của ngành sữa Việt không? Là nhà đầu tư nước ngoài như Tetra Pak, các ông nhìn nhận cơ hội của doanh nghiệp mình như thế nào trong “thời kỳ vàng” này?
Dự báo cho thấy mức độ tiêu thụ sữa tại Việt Nam sẽ tiếp tục tăng từ 15 lít trên đầu người năm 2010 lên 28 lít vào năm 2020. Mặc dù vậy, mức tiêu thụ này vẫn còn thấp so với các nước đang phát triển khác. Điều đó có nghĩa là còn nhiều dư địa cho phát triển đặc biệt ở thị trường nông thôn.
Bên cạnh đó, khoảng 1/3 dân số Việt Nam là ở độ tuổi 16 đến 30 và đây là thế hệ đầu tiên sử dụng sữa. Ở nhóm tuổi này họ sẽ có xu hướng sử dụng những loại nước uống dinh dưỡng đa dạng hơn. Và chúng ta đã bắt đầu thấy thị trường đã xuất hiện những loại nước uống mới như sữa chua uống, sữa trái cây đóng hộp để đáp ứng nhu cầu này.
Đó là cơ hội cho các nhà cung cấp sữa và cho các công ty cung cấp các sản phẩm liên quan, cụ thể như bao bì đối với Tetra Pak.
Thị trường sữa Việt Nam sẽ không chỉ có chỗ cho nhà cung cấp hiện có mà còn cho những doanh nghiệp sẽ tham gia thị trường trong thời gian tới. Việc có nhiều các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, phát triển sẽ góp phần thúc đẩy thị trường sữa Việt có nhiều đổi mới, sáng tạo và điều này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng.
Tetra Pak là thương hiệu lớn trên thế giới về lĩnh vực bao bì cũng như đã hoạt động tại Việt Nam nhiều năm, vậy các ông sẽ đón cơ hội này như thế nào?
Quý 4/2017 chúng tôi sẽ chính thức khởi động xây dựng nhà máy sản xuất bao bì giấy đóng gói thực phẩm dạng lỏng đầu tiên tại Việt Nam, đặt tại Bình Dương, với giá trị lên tới 110 triệu USD.
Nhà máy dự kiến sẽ được hoàn thành vào cuối năm 2018, đầu 2019, sẽ sản xuất các chủng loại bao bì khác nhau, bao gồm bao bì cho các sản phẩm sữa và nước trái cây, với công suất lên đến 20 tỷ sản phẩm mỗi năm.
Nhà máy của Tetra Pak tại Việt Nam sẽ không chỉ cung cấp sản phẩm bao bì cho thị trường trong nước mà còn xuất khẩu tới các thị trường trong khu vực.
Tại khu vực châu Á- Thái Bình Dương, Tetra Pak đã có nhà máy tại Ấn Độ, Singapore, Nhật Bản và nhà máy tại Việt Nam là nhà máy thứ tư và dự kiến đây cũng sẽ là nhà máy có công suất lớn nhất tại khu vực châu Á, nếu không tính đến Trung Quốc.
Nhưng, Tetra Pak có đặt kỳ vọng quá lớn không khi mà thị trường bao bì đóng hộp nói chung tại Việt Nam và các doanh nghiệp cung cấp bao bì cho các công ty sữa nói riêng đang “bão hòa” với rất này càng nhiều thương hiệu tham gia?
Đầu tư vào nhà máy mới, chúng tôi không chỉ phục vụ cho nhu cầu nội địa và còn xuất khẩu trong tương lai. Lĩnh vực chính mà Tetra Pak đang kinh doanh là ngành sữa nhưng không có nghĩa chỉ là ngành sữa, chúng tôi còn đang tham gia ở các ngành khác như nước, nước trái cây đóng hộp, tôi nghĩ những ngành này sẽ phát triển trong trương lai và đây là mục tiêu mà nhà máy của chúng tôi sẽ nhắm tới.
Trong ba năm gân đây, tốc độ tăng trưởng trung bình của Tetra Pak tại Việt Nam đạt mức hai con số. Năm ngoái chúng tôi đã bán ra được khoảng 7,5 tỷ bao bì. Dù đây đã là con số khá lớn nhưng tôi tin tưởng sẽ còn tăng trưởng mạnh trong thời gian tới.
Sở dĩ vì, hiện các sản phẩm đóng hộp ở Việt Nam tương đối giống nhau, sản phẩm nào nhìn cũng na ná. Vì vậy Tetra Pak đang giới thiệu cho khách hàng các sản phẩm bao bì mới có thể tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm của họ, ví dụ như thay đổi hình dạng hộp, có thêm nắp vặn để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của đối tượng khách hàng trẻ tuổi… thì thị trường và cơ hội phát triển cho chúng tôi sẽ là rất lớn.
Sự khác biệt của Tetra Pak là chúng tôi có thể cung cấp giải pháp trọn vẹn cho nhà cung cấp, cũng như cải tiến cho nhu cầu phát triển của khách hàng mà không có nhà cung cấp nào có thể thực hiện được.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 ghi nhận mức giảm 0,39% so với tháng trước, chủ yếu nhờ đà hạ nhiệt mạnh mẽ của giá xăng dầu theo xu hướng năng lượng thế giới. Sự giảm tốc trong tháng 6 mang lại những tín hiệu tích cực cho công tác điều hành giá cả trong nửa cuối năm...
TP.Hồ Chí Minh đang đẩy mạnh giám sát các mối nguy ngay trong quá trình lưu thông, kinh doanh thực phẩm trên thị trường, thay vì chờ phát hiện vi phạm hay xử lý khi xảy ra ngộ độc thực phẩm. Từ lấy mẫu kiểm nghiệm, cảnh báo sớm đến truy xuất nguồn gốc sản phẩm, Thành phố hướng tới xây dựng hệ thống quản lý an toàn thực phẩm chủ động hơn, kiểm soát rủi ro ngay từ các mắt xích của chuỗi cung ứng.
Trước những diễn biến của thị trường thế giới, giá xăng dầu trong nước kỳ điều hành ngày 25/6 được điều chỉnh giảm mạnh. Cụ thể, xăng E5RON92 giảm 767 đồng/lít, xăng E10RON95-III giảm 837 đồng/lít. Tương tự, các mặt hàng dầu cũng có mức giảm từ 1.650 đồng - 1.668 đồng/lít…
TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu đưa khu vực dịch vụ đóng góp 60 - 65% GRDP vào năm 2030 và nâng lên 70 - 75% vào năm 2040. Đồng thời, triển khai mô hình liên kết “5+1”, lấy Trung tâm Tài chính quốc tế làm hạt nhân để xây dựng hệ sinh thái dịch vụ hiện đại, hướng tới vị thế trung tâm dịch vụ hàng đầu Đông Nam Á…
Khối hộ tiêu thụ dân cư vẫn còn nhiều bất cập về nhận thức. Họ nghĩ: "Tôi có tiền, tôi trả được thì tại sao không được dùng nhiều?", dẫn đến việc lãng phí vô tội vạ mà không hiểu rằng khi tiêu thụ vượt ngưỡng, hệ thống phải huy động các nguồn điện rất đắt đỏ, gây áp lực chi phí đầu tư khổng lồ cho xã hội…
Bước vào 6 tháng cuối năm 2026, kinh tế Việt Nam đứng trước cơ hội bứt phá lớn khi tăng trưởng GDP nửa đầu năm đạt mức ấn tượng 8,18%. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai chữ số đầy tham vọng, nền kinh tế phải đối mặt với không ít áp lực từ xu hướng nhập siêu, áp lực lạm phát và điểm nghẽn giải ngân đầu tư công.
Sự chia sẻ lớn hơn của chính sách tài khóa; các công cụ điều tiết, đảm bảo sự vận hành của thị trường, lưu thông hàng hóa; chính sách về an ninh năng lượng, dự trữ năng lượng... là những giải pháp được đề xuất để giảm áp lực lạm phát từ nay đến cuối năm.