Sai lầm của nhận thức “có tiền trả thì tại sao không được dùng nhiều điện”

Khối hộ tiêu thụ dân cư vẫn còn nhiều bất cập về nhận thức. Họ nghĩ: "Tôi có tiền, tôi trả được thì tại sao không được dùng nhiều?", dẫn đến việc lãng phí vô tội vạ mà không hiểu rằng khi tiêu thụ vượt ngưỡng, hệ thống phải huy động các nguồn điện rất đắt đỏ, gây áp lực chi phí đầu tư khổng lồ cho xã hội…

Tiết kiệm điện là yêu cầu mang tính chiến lược đối với cả nền kinh tế.
Tiết kiệm điện là yêu cầu mang tính chiến lược đối với cả nền kinh tế.

Ngay từ cuối tháng 5, hệ thống điện quốc gia đã phải liên tiếp chống chọi với những kỷ lục mới về tiêu thụ điện. Sự gia tăng đột biến này đặt ra áp lực ngày càng nặng nề trong bối cảnh nắng nóng cực đoan xuất hiện ngày càng dày đặc dưới tác động của biến đổi khí hậu. Không dừng lại ở đó, nguy cơ xuất hiện hiện tượng El Nino trong những tháng tới được dự báo sẽ làm trầm trọng hơn tình hình khi vừa làm tăng vọt nhu cầu làm mát, vừa đe dọa trực tiếp đến nguồn cung điện, đặc biệt là nguồn thủy điện.

Nỗi lo về nguồn cung còn bị cộng hưởng bởi những bất ổn địa chính trị trên thế giới, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới chuỗi cung ứng xăng dầu – nguồn nguyên liệu quan trọng cho sản xuất điện.

Trước tình thế đó, bài toán bảo đảm an ninh năng lượng để phục vụ tăng trưởng kinh tế, ổn định đời sống nhân dân và hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Tiết kiệm điện vì thế không còn là giải pháp tình thế, mà là yêu cầu mang tính chiến lược đối với cả nền kinh tế, nhất là với mục tiêu tự chủ năng lượng của Việt Nam.

5 RÀO CẢN KHIẾN TIẾT KIỆM ĐIỆN CHƯA THÀNH "VĂN HÓA"

Song dù Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã ban hành từ năm 2010, đi kèm nhiều chương trình truyền thông của Bộ Công Thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), cũng như các chỉ thị hằng năm của Thủ tướng Chính phủ, việc tiết kiệm điện vẫn chưa thực sự trở thành thói quen tự giác trong toàn xã hội.

Theo ông Hà Đăng Sơn, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và Tăng trưởng xanh, có 5 rào cản lớn đang tồn tại:

Thứ nhất, tư duy "có tiền thì có quyền lãng phí". Khối hộ tiêu thụ dân cư (chiếm khoảng 30% nhu cầu điện) vẫn còn nhiều bất cập về nhận thức. Nhiều người có suy nghĩ: "Tôi có tiền, tôi trả được thì tại sao không được dùng nhiều?", dẫn đến việc lãng phí vô tội vạ mà không hiểu rằng khi tiêu thụ vượt ngưỡng, hệ thống phải huy động các nguồn điện rất đắt đỏ, gây áp lực chi phí đầu tư khổng lồ cho xã hội. Trong khi đó, hệ thống giá điện bán lẻ hiện nay vẫn được kiểm soát, còn bù chéo và chưa thể hiện yếu tố chi phí công suất, khiến người lãng phí chưa phải chịu trách nhiệm tài chính tương xứng.

Ông Hà Đăng Sơn, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và Tăng trưởng xanh (Ảnh VGP).
Ông Hà Đăng Sơn, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và Tăng trưởng xanh (Ảnh VGP).

Thứ hai, hiểu sai về đặc thù ngành điện. Người tiêu dùng thông thường hay thắc mắc theo tư duy thương mại: "Tại sao hàng hóa khác mua nhiều thì rẻ, còn điện dùng nhiều lại đắt hơn?". Họ chưa hiểu được bản chất phức tạp của cung ứng điện và giá trị kinh tế của mỗi kilowatt điện cắt giảm được – thứ mà Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) gọi là "nguồn điện đầu tiên".

Thứ ba, thiếu cơ chế tài chính cho điều chỉnh phụ tải. Dù EVN rất nỗ lực làm việc với các doanh nghiệp hằng năm, nhưng quốc gia vẫn chưa có một cơ chế tài chính đồng nhất để định giá và chi trả cho sự "hy sinh", phân bổ lại dòng điện của doanh nghiệp.

Thứ tư, tâm lý chuộng thiết bị giá rẻ. Cả người dân và doanh nghiệp thiếu nhận thức sâu thường ưu tiên mua thiết bị rẻ tiền trước mắt. Những thiết bị này có hiệu suất năng lượng kém, dễ hỏng hóc, nguy cơ cháy nổ cao và hoàn toàn phản tác dụng tiết kiệm.

Thứ năm, lười theo dõi số liệu. Dù EVN đã xây dựng các công cụ kiểm tra mức tiêu thụ điện hằng ngày, nhưng số lượng người dân và doanh nghiệp chủ động theo dõi, đo đếm các con số này còn rất hạn chế.

Trong khi đó, hiệu quả kinh tế khi thực hiện tiết kiệm điện rất lớn. Ông Ngô Sơn Hải, Phó Tổng Giám đốc EVN cho biết với tốc độ tăng trưởng hiện tại, mỗi năm hệ thống điện quốc gia cần bổ sung từ 4.000 đến 5.000 MW công suất mới. Để dễ hình dung, một dự án điện gió ngoài khơi hay điện khí LNG quy mô 1.000 MW phải mất từ 3-4 năm hoàn thiện thủ tục và xây dựng mới có thể vận hành.

"Trong khi đó, nếu toàn xã hội tiết kiệm được khoảng 2% công suất tiêu thụ, chúng ta đã tương đương với việc giảm nhu cầu đầu tư khoảng 1.000 MW. Đây là giải pháp nhanh chóng, hiệu quả và ít tốn kém hơn rất nhiều", ông Ngô Sơn Hải nhấn mạnh.

Ông Ngô Sơn Hải, Phó Tổng Giám đốc EVN (Ảnh VGP).
Ông Ngô Sơn Hải, Phó Tổng Giám đốc EVN (Ảnh VGP).

Bên cạnh đó, việc tiết kiệm điện giúp hạ giá thành vận hành chung. Khi nhu cầu tăng cao, đơn vị vận hành phải huy động nguồn điện theo thứ tự chi phí từ thấp đến cao. Do đó, tiết kiệm điện sẽ giúp hạn chế việc phải huy động các nguồn nguồn điện đắt đỏ vào giờ cao điểm, mang lại lợi ích kinh tế cho cả hộ gia đình, doanh nghiệp lẫn toàn xã hội.

THAY ĐỔI TƯ DUY: TIẾT KIỆM LÀ MỘT KHOẢN ĐẦU TƯ SINH LỜI

Dưới góc nhìn công nghệ và quản trị, ông Đặng Nguyễn Ngữ, Tổng Giám đốc Công ty Schneider Electric Việt Nam và Campuchia, đã đưa ra những đính chính quan trọng về mặt nhận thức.

Trước hết, tiết kiệm không có nghĩa là ngừng sản xuất hay giảm tiêu thụ một cách máy móc. Tiết kiệm thực sự phải đến từ việc tối ưu hóa hiệu suất ở mọi cấp độ: từ hộ gia đình, tòa nhà, nhà máy cho đến bình diện quốc gia.

Mặt khác cần xóa bỏ tư duy coi đầu tư cho tiết kiệm là "chi phí". Với trình độ công nghệ hiện nay, đây hoàn toàn là một khoản đầu tư có thể đo đếm, tính toán được bài toán thu hồi vốn rõ ràng. Đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là khối FDI, quản lý năng lượng và tiết kiệm điện đã trở thành năng lực cạnh tranh cốt lõi và là một phần không thể tách rời của xu hướng chuyển đổi xanh.

Đồng thời, ông Đặng Nguyễn Ngữ cũng lưu ý rằng, việc thay thế các thiết bị đơn lẻ (như thay đèn huỳnh quang bằng đèn LED) là cần thiết nhưng chưa đủ. Tiết kiệm năng lượng hiện đại đòi hỏi một tư duy hệ thống, dựa trên quản lý dữ liệu qua quá trình số hóa và tối ưu hóa vận hành theo thời gian thực.

Ông Đặng Nguyễn Ngữ, Tổng Giám đốc Công ty Schneider Electric Việt Nam và Campuchia.
Ông Đặng Nguyễn Ngữ, Tổng Giám đốc Công ty Schneider Electric Việt Nam và Campuchia.

Sự bùng nổ của thời đại số hóa và trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những cơ hội chưa từng có. Nếu trước đây, một giải pháp tiết kiệm năng lượng mất 10 năm từ ý tưởng đến thực tế, thì nay với AI, thời gian chỉ còn tính bằng năm hoặc bằng tháng. Các công nghệ thông minh như Smart Home, Smart Building, Smart Factory và Smart Grid ứng dụng AI giúp điều chỉnh hệ thống dựa trên thời gian thực và quản lý hiệu quả các đỉnh tải (peak load).

Bổ sung về xu hướng này, ông Hà Đăng Sơn cho biết việc ứng dụng hệ thống mô phỏng thông tin công trình ngay từ khâu thiết kế có thể giúp các tòa nhà công sở, thương mại cắt giảm từ 40-60% năng lượng tiêu thụ. Bên cạnh đó, việc thay thế các thông số đo truyền thống bằng các giải pháp kết hợp AIoT (Trí tuệ nhân tạo vạn vật) đem lại hiệu quả vượt trội.

Ví dụ, thay vì chỉ dùng nhiệt độ để điều khiển điều hòa, xu hướng thế giới hiện nay là dùng nồng độ CO2 làm thông số đầu vào để tối ưu hóa hệ thống lấy gió ngoài. Ngoài ra, xu hướng lưu trữ năng lượng (bằng pin hoặc các dạng lưu trữ nhiệt lượng, làm lạnh công nghiệp) cũng giúp dịch chuyển phụ tải đỉnh một cách linh hoạt để sử dụng về sau. Các công cụ số này cũng là "chìa khóa" giúp doanh nghiệp thực hiện các báo cáo ESG, giảm phát thải phục vụ xuất khẩu.

Để hiện thực hóa Chiến lược quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, ông Đặng Nguyễn Ngữ khuyến nghị Việt Nam cần chủ động ứng dụng công nghệ để đi nhanh hơn các nước trong khu vực. Đã đến lúc biến chiến lược thành hành động thực tế bằng cách triển khai các dự án có hiệu quả ngay để chứng minh và lan tỏa giá trị.

"Sự thay đổi không cần bắt đầu từ điều gì quá to tát, mà đi từ việc xây dựng ý thức tại nhà, lan rộng đến cơ quan và tiến tới tối ưu hóa toàn bộ hệ thống ở bình diện quốc gia", ông Ngữ nhấn mạnh.

Người Mông tạo sinh kế mới từ du lịch

Xã Tà Xùa (Sơn La), nơi hơn 99% dân số là đồng bào Mông, đang từng bước trở thành điểm đến du lịch sinh thái giàu bản sắc. Sự phát triển của du lịch không chỉ góp phần giảm nghèo, nâng cao thu nhập mà còn tạo việc làm ổn định, giúp nhiều lao động người Mông ở địa phương không còn phải rời quê mưu sinh...

TP.HCM: Tuân thủ yêu cầu môi trường để phát triển khu công nghiệp sinh thái

Trong khoảng 5.000 doanh nghiệp đang hoạt động tại 65 khu công nghiệp và khu chế xuất ở TP. Hồ Chí Minh, không ít đơn vị vẫn đang ở trạng thái bị động: chỉ điều chỉnh khi có quy định mới hoặc chuyển đổi khi khách hàng quốc tế yêu cầu. Tuy nhiên, trước bối cảnh hiện nay, sự chậm trễ này đang khiến doanh nghiệp đối mặt với rủi ro ngày càng lớn...

FDI định hình động lực tăng trưởng xuất khẩu mới của Nghệ An

Trong bối cảnh nhiều mặt hàng xuất khẩu truyền thống suy giảm, khu vực FDI đang trở thành động lực tăng trưởng mới của Nghệ An. Với hàng loạt dự án công nghệ cao đi vào vận hành, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh 6 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 3,15 tỷ USD, tăng 58,4% so với cùng kỳ năm trước...

Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy