Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đã quy định, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác, được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Tuy nhiên, khi góp ý vào dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi), nhiều đơn vị cho rằng quy định này cần được điều chỉnh, tránh tình trạng doanh nghiệp chẻ thu nhập để né đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động.
Theo Sở Nội vụ tỉnh Bắc Ninh, qua ghi nhận về tình hình thực hiện đóng bảo hiểm xã hội trên địa bàn, khái niệm “ổn định” hiện chưa được lượng hóa cụ thể, dễ dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong tổ chức thực hiện, nhất là đối với các khoản thu nhập có biến động theo tháng nhưng được chi trả thường xuyên.
Vì thế, Sở Nội vụ Bắc Ninh đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định, theo hướng làm rõ khái niệm “thường xuyên, ổn định”, hoặc quy định tiêu chí xác định cụ thể đối với các khoản thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Đồng thời, đơn vị này cũng đề xuất ban soạn thảo nghiên cứu cơ chế xác định mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc phù hợp với tổng thu nhập thực tế của người lao động, hạn chế tình trạng doanh nghiệp tách, né các khoản thu nhập để giảm mức đóng bảo hiểm xã hội.
Còn theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, việc quy định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là các khoản tiền lương tháng, và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương trong hợp đồng lao động, đã dẫn đến hiện tượng chia nhỏ và tăng cao các khoản phụ cấp, trợ cấp khác không thuộc tiền lương, phụ cấp lương, và các khoản bổ sung khác làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.
Chẳng hạn như thưởng hiệu quả công việc, thưởng hiệu quả kinh doanh, thưởng chuyên cần, thưởng năng suất lao động, thưởng doanh thu…, hoặc dưới hình thức các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở… Việc này, nhằm mục đích để doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động không phải đóng, hoặc giảm mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
Đặc biệt, tại một số doanh nghiệp, tiền hỗ trợ xăng xe, điện thoại cao gấp 2 – 3 lần mức lương tham gia bảo hiểm xã hội. Song, hiện chưa có quy định về mức trần của các khoản hỗ trợ trên.
Theo số liệu kiểm tra của cơ quan Bảo hiểm xã hội tại gần 500 đơn vị sử dụng lao động thuộc các tỉnh/thành phố như: Nghệ An, Hải Phòng, Sơn La, Đắk Nông (cũ), Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh…, trong 3 năm gần đây, cho thấy các đơn vị khai báo tiền lương đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp chỉ bằng 40 – 50% so với tổng thu nhập thực tế của người lao động.
Cá biệt, có những đơn vị, tiền lương đóng bảo hiểm xã hội chỉ bằng 16 – 20% tổng thu nhập thực tế của người lao động.
Bên cạnh đó, còn nhiều doanh nghiệp tư nhân chỉ kê khai mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bằng hoặc cao hơn không đáng kể so với tiền lương tối thiểu vùng.
Phản hồi về nội dung trên, Bộ Nội vụ cho biết trong quá trình nghiên cứu xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội 2024, cơ quan soạn thảo cũng đã đề cập đến việc xác định đóng bảo hiểm xã hội trên tổng thu nhập.
Tuy nhiên, thực tế, nếu triển khai sẽ gặp nhiều vướng mắc, do thu nhập của người lao động thay đổi liên tục. Trong khi, doanh nghiệp thường đăng ký, khai báo đóng bảo hiểm xã hội thực hiện kể từ khi ký hợp đồng lao động, hoặc đầu tháng (khi chưa xác định được thu nhập).
Mặt khác, Bộ Nội vụ cho rằng, nếu quy định đóng bảo hiểm xã hội trên tổng thu nhập cũng làm gia tăng lớn chi phí đối với doanh nghiệp cũng như người lao động. Do đó, trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các cơ quan thì nội dung này không đưa vào quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội 2024.




Kết quả khảo sát thí điểm công nghệ phân loại rác bằng quang học cho thấy 19% lượt quét bao bì mềm tại TP. Hồ Chí Minh không được thiết bị nhận diện. Với tiêu chuẩn tái chế nghiêm ngặt sắp áp dụng tại Liên minh châu Âu, đây là hồi chuông cảnh báo lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam...
Dù không thuộc nhóm nông sản có kim ngạch xuất khẩu lớn, nhưng mật ong Việt Nam đang được đánh giá là ngành hàng giàu tiềm năng nhờ lợi thế tự nhiên, giá trị sinh thái và khả năng tạo sinh kế bền vững. Việc FAO lựa chọn mật ong Việt Nam tham gia sáng kiến “Mỗi quốc gia một sản phẩm ưu tiên” mở ra cơ hội nâng cao giá trị gia tăng, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường cho ngành nuôi ong...
Trước biến động của thị trường thế giới, giá xăng dầu trong nước ngày 24/9 đồng loạt tăng mạnh. Đáng chú ý, kỳ điều hành này liên Bộ Công Thương – Tài chính quyết định không trích lập và không chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu…
Không chỉ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) muốn giảm áp lực thế chấp, các ngân hàng cũng đang tìm cách bớt lệ thuộc vào tài sản bảo đảm để mở rộng tín dụng cho khu vực này. Quá trình này nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào phạm vi, chất lượng và độ tin cậy của dữ liệu mà ngân hàng có thể sử dụng để đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp…
Lãng phí thực phẩm đang trở thành một thách thức lớn của thế giới hiện đại. Mỗi năm thế giới lãng phí khoảng 1/3 lượng thực phẩm được sản xuất, tương đương hơn 1,3 tỉ tấn. Trong khi đó, hàng trăm triệu người vẫn đang phải đối mặt với tình trạng thiếu dinh dưỡng…
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Việt Nam hiện đã hoàn tất kết nối thanh toán QR xuyên biên giới với 6 quốc gia trong khu vực và châu Á, đang triển khai kết nối với Đài Loan (Trung Quốc), Ấn Độ và tiếp tục triển khai mở rộng dịch vụ với các quốc gia khác trong thời gian tới.