Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tính đến ngày 20/7/2026, cả nước gieo cấy được 1.138,5 nghìn ha lúa mùa, giảm 45,6 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, các địa phương phía Bắc đạt 806,9 nghìn ha, giảm 25,4 nghìn ha; phía Nam đạt 331,6 nghìn ha, giảm 20,2 nghìn ha.
Lý giải nguyên nhân diện tích lúa mùa giảm, báo cáo của Cục Thống kê cho biết chủ yếu do các địa phương tiếp tục chuyển đổi một phần diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang cây trồng khác, nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao hơn hoặc phục vụ phát triển hạ tầng, khu công nghiệp.
Đối với lúa hè thu, cả nước gieo cấy được 1.862,8 nghìn ha, giảm 24 nghìn ha so với cùng kỳ. Miền Bắc đạt 166,9 nghìn ha, giảm 5,5 nghìn ha, trong khi miền Nam đạt 1.695,9 nghìn ha, giảm 18,5 nghìn ha. Tiến độ gieo trồng chậm hơn năm trước do vụ đông xuân thu hoạch muộn, nắng nóng kéo dài và nguồn nước tưới hạn chế khiến nhiều địa phương chủ động giảm diện tích hoặc lùi thời gian xuống giống.
Một số địa phương đã hoàn thành gieo cấy lúa hè thu, nhưng diện tích đều giảm như Đồng Tháp đạt 231,6 nghìn ha, giảm 12,3 nghìn ha; Vĩnh Long đạt 104,8 nghìn ha, giảm 3,3 nghìn ha; Cần Thơ đạt 284 nghìn ha, giảm 0,3 nghìn ha; Cà Mau đạt 94,2 nghìn ha, giảm 0,1 nghìn ha.
Đến nay, các trà lúa hè thu sớm đã thu hoạch 356,2 nghìn ha, tương đương 19,1% diện tích xuống giống. Phần diện tích còn lại đang trong giai đoạn trổ bông và chín sữa, song nguy cơ sâu bệnh gia tăng do mưa trên diện rộng, đòi hỏi các địa phương tăng cường theo dõi đồng ruộng và hướng dẫn nông dân phòng trừ kịp thời.
Trong khi đó, lúa thu đông tại các tỉnh phía Nam mới gieo cấy được 170 nghìn ha, chỉ bằng 59% cùng kỳ năm trước. An Giang đạt 58,5 nghìn ha (55,9%), Cần Thơ 50,7 nghìn ha (39,1%) và Đồng Tháp 19,3 nghìn ha (73,2%). Tiến độ xuống giống chậm chủ yếu do thu hoạch lúa hè thu muộn.
Cùng với sản xuất lúa, các địa phương tiếp tục gieo trồng cây hoa màu. Tuy nhiên, diện tích nhiều loại cây hằng năm vẫn giảm do hiệu quả kinh tế thấp, người dân chuyển sang các loại cây trồng và mô hình sản xuất có giá trị cao hơn.
Ở lĩnh vực chăn nuôi, đàn trâu và bò tiếp tục xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế chưa cao, diện tích chăn thả bị thu hẹp, nguồn thức ăn thô xanh giảm trong khi giá thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao.
Chăn nuôi lợn tiếp tục phát triển ổn định. Mặc dù giá lợn hơi tại một số tỉnh phía Bắc và miền Trung giảm nhẹ trong nửa cuối tháng 7 sau thời gian duy trì ở mức cao, song vẫn đảm bảo hiệu quả để người dân duy trì sản xuất và tái đàn. Tuy nhiên, dịch tả lợn châu Phi vẫn xuất hiện tại một số hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, làm gia tăng nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh nếu không tăng cường kiểm soát an toàn sinh học.
Đàn gia cầm tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá nhờ chu kỳ sản xuất ngắn, quay vòng vốn nhanh và nhu cầu tiêu dùng ổn định. Một số địa phương tăng mạnh gồm Tây Ninh tăng 6,7%, Nghệ An tăng 6,4%, Thanh Hóa tăng 4,6%, Đồng Nai tăng 3,9%, Phú Thọ tăng 3,8% và Bắc Ninh tăng 3,5%.
Theo báo cáo của Cục Thống kê, tháng 7/2026, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước đạt 14,6 nghìn ha, tăng 5% so với cùng kỳ; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 6,5 triệu cây, tăng 3,2%. Đáng chú ý, sản lượng gỗ khai thác đạt 2.387,1 nghìn m3, tăng 13,5% nhờ nhu cầu nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu tăng. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao gồm Gia Lai tăng 80,9%, Lạng Sơn tăng 14,8%, Nghệ An tăng 8,9% và Quảng Trị tăng 8%.
Tính chung 7 tháng năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 159,8 nghìn ha, giảm 3,1%; số cây trồng phân tán đạt 57,9 triệu cây, tăng 2,4%; sản lượng gỗ khai thác đạt 14.181,9 nghìn m3, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước.
Đáng lo ngại, diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng 7/2026 lên tới 449,6 ha, gấp 6,2 lần cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích rừng bị chặt phá còn 45 ha, giảm 23,4%, nhưng diện tích rừng bị cháy lên tới 404,6 ha, gấp 29,3 lần do nắng nóng kéo dài.
Tính chung 7 tháng năm 2026, diện tích rừng bị thiệt hại là 845,4 ha, giảm 9% so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích rừng bị chặt phá là 337,1 ha, giảm 46,6%, còn diện tích rừng bị cháy đạt 508,3 ha, tăng 71,2%.
Đối với lĩnh vực thủy sản, Cục Thống kê cho biết sản lượng tháng 7/2026 ước đạt 918,9 nghìn tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cá đạt 603,1 nghìn tấn (tăng 2,5%), tôm đạt 191,7 nghìn tấn (tăng 7,3%) và thủy sản khác đạt 124,1 nghìn tấn (tăng 8,4%).
Tính chung 7 tháng năm 2026, sản lượng thủy sản cả nước ước đạt 5.873,1 nghìn tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá đạt 4.101 nghìn tấn, tăng 2,6%; tôm đạt 965,8 nghìn tấn, tăng 7,4% và các loại thủy sản khác đạt 806,3 nghìn tấn, tăng 5,2%, tiếp tục khẳng định vai trò là điểm sáng trong tăng trưởng của ngành nông nghiệp.
Về sản lượng nuôi trồng thủy sản, trong tháng 7/2026 đạt 586,8 nghìn tấn, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước, gồm 340,5 nghìn tấn cá (tăng 4,2%), 182,1 nghìn tấn tôm (tăng 7,4%) và 64,2 nghìn tấn thủy sản khác (tăng 13%). Lũy kế 7 tháng năm 2026 đạt 3.579,9 nghìn tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 2.324,5 nghìn tấn (tăng 4,4%), tôm 884,6 nghìn tấn (tăng 8%) và thủy sản khác 370,8 nghìn tấn (tăng 9,8%).
Sản lượng cá tra tháng 7 ước đạt 154,7 nghìn tấn, tăng 3,9%; lũy kế 7 tháng đạt 1.090,1 nghìn tấn, tăng 4,8% nhờ giá cá nguyên liệu ổn định và nhu cầu thu mua phục vụ xuất khẩu duy trì tích cực.
Đối với tôm, sản lượng tôm thẻ chân trắng tháng 7 đạt 142,8 nghìn tấn, tăng 7,8%, tôm sú đạt 32,8 nghìn tấn, tăng 3,5%; lũy kế 7 tháng, tôm thẻ đạt 637,1 nghìn tấn, tăng 9,1%, còn tôm sú đạt 200,4 nghìn tấn, tăng 4,2%.
Trong khi đó, khai thác thủy sản tháng 7 đạt 332,1 nghìn tấn, tăng 1,2%, gồm 262,6 nghìn tấn cá, 9,6 nghìn tấn tôm và 59,9 nghìn tấn thủy sản khác; riêng khai thác biển đạt 325,9 nghìn tấn, tăng 1,2%. Lũy kế 7 tháng, sản lượng khai thác đạt 2.293,2 nghìn tấn, tăng 0,7%, trong đó khai thác biển đạt 2.193 nghìn tấn, tăng 0,7%.



Từ nhiệt độ âm 40 độ C, bão cát, rung động cơ học đến cháy và va đập, các nguyên mẫu pin được đưa vào những điều kiện khắc nghiệt nhất tại trung tâm thử nghiệm pin lớn nhất châu Âu nhằm kiểm tra khả năng chịu đựng và mức độ an toàn trước khi đưa vào sử dụng…
Trong tiến trình chuyển đổi số, con người vừa là đối tượng cần được bảo vệ, vừa là mắt xích có thể quyết định mức độ an toàn của toàn hệ thống. Với PETROVIETNAM, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao nhận thức và hình thành văn hóa an ninh mạng đang trở thành một phần quan trọng trong năng lực bảo vệ hệ thống, dữ liệu và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Khi Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) và tiêu chuẩn ESG bắt đầu định hình lại những yêu cầu mới của chuỗi cung ứng toàn cầu, ngành logistics Việt Nam cũng từng bước chuyển mình để thích ứng.
Từ những tuyến đường giao thông nông thôn, công trình thủy lợi, trường học, trạm y tế được đầu tư đồng bộ đến các mô hình hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị và sản phẩm OCOP vươn ra thị trường quốc tế, quá trình xây dựng nông thôn mới của Việt Nam đang được nhìn nhận như một kinh nghiệm đáng tham khảo đối với nhiều quốc gia đang phát triển...
Mưa lớn kéo dài trong nhiều ngày qua tại Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Tính đến 7h ngày 19/9, thiên tai đã làm 3 người thiệt mạng tại Phú Thọ, hàng chục nghìn ngôi nhà bị ngập, hàng chục nghìn ha lúa và hoa màu bị ảnh hưởng. Trong khi đó, lũ trên nhiều tuyến sông lớn đang xuống chậm nhưng vẫn duy trì ở mức cao, vượt báo động 3.
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Nhu cầu làm mát đang gia tăng mạnh mẽ trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp. Để giải bài toán bảo vệ tầng ô-dôn và giảm phát thải, Việt Nam đang thúc đẩy các chiến lược làm mát bền vững nhân kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali...