Bộ Tài chính đề xuất nhiều cơ chế hỗ trợ, phát triển hợp tác xã trong kỷ nguyên mới

Đến cuối năm 2025, khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã tiếp tục phát triển với hơn 35 nghìn hợp tác xã và gần 6 triệu thành viên. Tuy nhiên, việc liên kết chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao và hoàn thiện cơ chế, chính sách vẫn còn nhiều điểm nghẽn, đòi hỏi những giải pháp mới, đồng bộ và phù hợp hơn...

Xu hướng phát triển theo chuỗi giá trị và mở rộng sang các lĩnh vực mới cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với chính sách về hợp tác xã. Ảnh: VGP.
Xu hướng phát triển theo chuỗi giá trị và mở rộng sang các lĩnh vực mới cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với chính sách về hợp tác xã. Ảnh: VGP.

Luật Hợp tác xã năm 2023 có hiệu lực từ ngày 01/7/2024 đã tạo ra hành lang pháp lý mới, thúc đẩy khu vực kinh tế tập thể phát triển theo hướng minh bạch, năng động.

KỊP THỜI PHÁT HIỆN BẤT CẬP, CHỒNG CHÉO

Tính đến ngày 31/12/2025, cả nước có hơn 35 nghìn hợp tác xã với gần 6 triệu thành viên tham gia. Hiện tại có 216 liên hiệp hợp tác xã với hơn 1 nghìn hợp tác xã thành viên; gần 66 nghìn tổ hợp tác với hơn 1 triệu thành viên. Đồng thời có khoảng 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động (tăng 20% so với năm 2020). Khoảng 4,7 nghìn hợp tác xã tham gia liên kết chuỗi giá trị và 2,6 nghìn hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao.

Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lịch sử: kỷ nguyên mới của hội nhập quốc tế toàn diện, phát triển bền vững và khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI.

Bộ Chính trị đã ban hành đồng thời 4 Nghị quyết chiến lược – là “bộ tứ trụ cột” trong cải cách thể chế phát triển, tạo ra khung khổ tư duy mới để “giải phóng năng lực quốc gia" trong kỷ nguyên toàn cầu hóa 4.0.

Kinh tế tập thể - thành phần có lịch sử lâu đời được tiếp cận lại từ tầm nhìn chiến lược, thoát khỏi định kiến cũ, được khơi dậy để trở thành lực lượng tổ chức lại sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh và giữ vai trò trụ cột trong nền kinh tế.

Từ định hướng của Nghị quyết số 66-NQ/TW đặt ra yêu cầu cần tiếp tục rà soát, đánh giá toàn diện các quy định hiện hành để kịp thời phát hiện những nội dung còn chồng chéo, bất cập hoặc chưa phù hợp với thực tiễn phát triển của hợp tác xã.

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC XÃ

Qua tổng hợp báo cáo của các bộ, ngành, địa phương cho thấy quá trình thi hành Nghị định số 113/2024/NĐ-CP còn phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc cả về thể chế và tổ chức thực hiện. Một số địa phương còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận chính sách hỗ trợ. Ngoài ra, các vướng mắc về tư cách pháp lý và quản trị nội bộ ngày càng bộc lộ rõ.

“Việc tổ hợp tác không có tư cách pháp nhân tiếp tục là rào cản trong việc ký kết hợp đồng kinh tế, mở tài khoản thanh toán chung, thực hiện nghĩa vụ thuế và tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức”, báo cáo nêu rõ.

Theo Bộ Tài chính đánh giá, nguyên nhân là do nhiều quy định pháp luật chưa thực sự đồng bộ, chưa theo kịp thực tiễn phát triển nhanh của các mô hình liên kết. Năng lực nội tại và trình độ quản trị của khu vực kinh tế tập thể còn nhiều hạn chế. Phần lớn hợp tác xã và tổ hợp tác có quy mô nhỏ lẻ, manh mún, thiếu vốn đầu tư và chưa xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả…

Đặc biệt, xu hướng phát triển theo chuỗi giá trị và mở rộng sang các lĩnh vực mới cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với chính sách. Nhu cầu liên kết đa chiều từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ ngày càng tăng, trong khi khuôn khổ pháp lý hiện hành chưa theo kịp yêu cầu liên kết sâu giữa tổ hợp tác, hợp tác xã với doanh nghiệp và các tổ chức khác.

Thị trường, đặc biệt là xuất khẩu và các sản phẩm OCOP cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về minh bạch thông tin và truy xuất nguồn gốc thông qua mã QR, trong khi nhiều đơn vị chưa đáp ứng được do hạn chế về công nghệ và năng lực quản lý…

Mặt khác, tình trạng hợp tác xã "treo" còn phổ biến với nhiều đơn vị ngừng hoạt động trong thời gian dài nhưng không thể giải thể do vướng mắc về nợ thuế, nợ tín dụng, thất lạc con dấu, hồ sơ hoặc không còn người đại diện pháp luật…

Bộ Tài chính đã nghiên cứu, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về hợp tác xã; bước đầu xây dựng dự thảo Nghị định thay thế, dự thảo Tờ trình Chính phủ và các tài liệu liên quan.

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ, PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ

Theo Bộ Tài chính, dự thảo Nghị định gồm 6 chương, 29 điều và phụ lục; thể chế hóa 08 nhóm chính sách tại Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 và Luật Hợp tác xã.

Cụ thể, dự thảo tập trung sửa đổi, hoàn thiện quy định về phân loại hợp tác xã; chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã như hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, thông tin, xây dựng mạng lưới cung cấp dịch vụ tư vấn, hỗ trợ ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tiếp cận và nghiên cứu thị trường, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, trang thiết bị...

Đáng chú ý, Bộ Tài chính đề xuất hỗ trợ chi phí kiểm toán đối với hợp tác xã đã thực hiện thuê tổ chức kiểm toán độc lập để thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính năm trước liền kề trong trường hợp hợp tác xã quy mô siêu nhỏ và nhỏ được Nhà nước hỗ trợ với kinh phí từ 03 tỷ đồng trở lên phù hợp với khả năng cân đối ngân sách và theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Hoặc 05 tỷ đồng đối với các hợp tác xã hoạt động tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.

Cơ quan soạn thảo cũng đề xuất lược bỏ quy định gia hạn nợ với thời hạn tối đa bằng 12 tháng đối với hoạt động cho vay nội bộ trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác хã…

Góp ý dự thảo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị nghiên cứu bổ sung nguyên tắc ưu tiên trong lựa chọn đối tượng thụ hưởng, tránh tình trạng hỗ trợ dàn đều, “cào bằng".

Cụ thể, ưu tiên hỗ trợ đối với hợp tác xã nông nghiệp tham gia liên kết chuỗi giá trị, phát triển vùng nguyên liệu, sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng nông nghiệp xanh, hữu cơ, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải, chuyển đổi số… Tuy nhiên, Bộ Tài chính đề nghị giữ nguyên như dự thảo luật.

Cũng theo dự thảo tờ trình, Bộ Tài chính kiến nghị hỗ trợ lương, thưởng phúc lợi cho người lao động tốt nghiệp cao đẳng, đại học, sau đại học làm việc tại các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã… nhằm thu hút người lao động có chất lượng cao.

Liên quan đến đề xuất này, Bộ Tài chính cho biết qua tổng kết đến cuối năm 2025, tỷ lệ cán bộ quản lý hợp tác xã có trình độ từ cao đẳng trở lên chỉ chiếm khoảng 25%. Do đó, tại dự thảo Nghị định, Bộ Tài chính đã đề xuất tiêu chí tốt nghiệp cao đẳng, đại học, thạc sỹ làm căn cứ xác định đây là nguồn lao động có chất lượng cao.

Đồng thời, tại điểm d khoản 3 Điều 7 dự thảo quy định ngân sách địa phương hỗ trợ thực hiện nội dung này. Do đó, địa phương có thể quy định bổ sung các tiêu chí, điều kiện phù hợp với thẩm quyền theo cấp ngân sách.

Để đảm bảo rõ ràng và minh bạch, dễ áp dụng khi triển khai, Bộ Tài chính đã bổ sung giải thích từ ngữ: "Người lao động có chất lượng cao làm việc tại hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là lao động tốt nghiệp cao đẳng, đại học, sau đại học có tối thiểu 02 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực liên quan đến vị trí tuyển dụng".

Đồng thời làm rõ hơn “ngân sách địa phương hỗ trợ cho mỗi lao động có chất lượng cao hàng tháng ít nhất bằng 1,5 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này và quy định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh”.

Nâng năng suất, mở rộng dư địa tăng trưởng

Trong quá trình tái định hình mô hình tăng trưởng, năng suất số, tăng trưởng xanh và thể chế cùng tạo nền tảng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế...

Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy