Gần 90% chuyên gia tham gia cuộc khảo sát của Reuters dự báo lãi suất chính sách của Fed tăng lên mức 3,25-3,5% hoặc cao hơn vào cuối năm nay.
Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất với bước nhảy 0,5 điểm phần trăm trong tháng 9, trong bối cảnh kỳ vọng lạm phát đã qua đỉnh và mối lo ngày càng lớn về khả năng suy thoái kinh tế - theo các chuyên gia trong một cuộc khảo sát của hãng tin Reuters.
Dù vẫn gần mức cao nhất 4 thập kỷ, lạm phát ở Mỹ đã dịu đi trong tháng 7, khiến các hợp đồng lãi suất tương lai ở Phố Wall dịch chuyển về phía khả năng Fed áp dụng bước nhảy lãi suất 0,5 điểm phần trăm trong cuộc họp tháng tới. Bước nhảy lãi suất 0,75 điểm phần trăm đã được Fed áp dụng trong cuộc họp tháng 6 và tháng 7.
Trong cuộc khảo sát do Reuters tiến hành từ ngày 16-19/8, đa số các chuyên gia kinh tế dự báo Fed tăng lãi suất 0,5 điểm phần trăm vào tháng tới. Với mức tăng như vậy, lãi suất cơ bản đồng USD sẽ được nâng lên mức 2,75-3%.
Trong số 94 chuyên gia được Reuters khảo sát, chỉ có 18 vị dự báo Fed sẽ nâng lãi suất 0,75 điểm phần trăm trong lần họp tới.
Gần 90% chuyên gia tham gia cuộc khảo sát của Reuters dự báo lãi suất chính sách của Fed tăng lên mức 3,25-3,5% hoặc cao hơn vào cuối năm nay.
Trong cuộc họp tháng 7, Chủ tịch Fed Jerome Powell - người sẽ có bài phát biểu tại hội nghị thường niên của Fed ở Jackson Hole vào ngày thứ Sáu tuần này - nói rằng “có thể sẽ là phù hợp nếu giãn tiến độ tăng lãi suất”.
Từ tháng 3 đến nay, Fed đã nâng lãi suất tổng cộng 2,25 điểm phần trăm. Triển vọng Fed tiếp tục tăng lãi đang đặt ra nguy cơ suy thoái kinh tế Mỹ ngày càng lớn. Cuộc khảo sát của Reuters cho thấy khả năng trung bình 45% kinh tế Mỹ sẽ bắt đầu suy thoái trong vòng 1 năm tới đây, tăng từ mức 40% trong cuộc khảo sát tháng 7. Khả năng suy thoái bắt đầu xảy ra trong vòng 2 năm là 50%.
“Một cuộc suy thoái là cần thiết và là cách duy nhất để đến được nơi chúng ta muốn đến - đó là nơi mọi người không bị mất sạch tiền vì giá cả tăng cao”, chiến lược gia Philip Marey của ngân hàng Rabobank nhận xét. “Đó không nhất thiết phải là một cuộc suy thoái sâu, vì các đợt suy thoái sâu của kinh tế Mỹ thường xảy ra với khủng hoảng tài chính, mà ở thời điểm hiện tại, tình hình tài chính của các hộ gia đình ở Mỹ đang ổn”.
Trong số 48 chuyên gia dự báo kinh tế Mỹ sẽ rơi vào suy thoái trong vòng 2 năm tới, có 37 vị cho rằng đây sẽ là một cuộc suy thoái ngắn và nông. 10 vị nói đây sẽ là một cuộc suy thoái dài và nông. Duy nhất chỉ 1 vị nói đây sẽ là một cuộc suy thoái dài và sâu.
Cũng trong cuộc khảo sát này, các chuyên gia kỳ vọng lạm phát ở Mỹ sẽ còn ở trên mức mục tiêu 2% của Fed cho tới ít nhất năm 2024, với các mức dự báo bình quân 8% cho năm 2022 và 3,7% cho năm 2023. Với dự báo lạm phát như vậy, Fed có khả năng phải nâng lãi suất lên cao hơn trong vùng chính sách thắt chặt.
Gần 90% chuyên gia tham gia cuộc khảo sát của Reuters dự báo lãi suất chính sách của Fed tăng lên mức 3,25-3,5% hoặc cao hơn vào cuối năm nay. Tỷ lệ này không thay đổi so với trong cuộc khảo sát mà Reuters thực hiện hồi tháng 7, cho dù trong tuần vừa rồi, thị trường tài chính Phố Wall đã khấp khởi kỳ vọng Fed giãn tiến độ tăng lãi suất.
Trong số 37 chuyên gia kinh tế tham gia trả lời một câu hỏi phụ, 80% cho biết họ nghiêng về khả năng Fed sẽ tăng lãi suất lên cao hơn mức họ kỳ vọng trước đây.
“Lạm phát cao dai dẳng sẽ tiếp tục đặt ra mối nguy lớn nhất đối với nền kinh tế. Lạm phát có thể sẽ không giảm như đúng kế hoạch. Trong trường hợp như vậy, lãi suất cơ bản sẽ phải tăng cao hơn nhiều, lên ngưỡng 4-5%”, chuyên gia kinh tế cấp cao Sal Guatieri của BMO Capital Markets nhận định. “Nếu như vậy, sẽ không còn nhiều tranh luận về việc liệu nền kinh tế có tránh được một cuộc suy thoái sâu hay không”.
Kinh tế Mỹ đã tăng trưởng âm trong 2 quý đầu năm nay, đáp ứng định nghĩa một cuộc suy thoái kỹ thuật. Tuy nhiên, Cục Nghiên cứu kinh tế Quốc gia (NBER) - trọng tài quyết định kinh tế Mỹ suy thoái hay chưa - vẫn chưa công bố một cuộc suy thoái. Để xác định suy thoái, đơn vị này còn dựa vào nhiều yếu tốc khác, bao gồm tỷ lệ thất nghiệp và thu nhập thực tế.
Trong khi đó, số lượng việc làm mới được tạo ra hàng tháng trong khu vực phi nông nghiệp của nền kinh tế Mỹ vẫn lớn và tỷ lệ thất nghiệp ở nước này trong tháng 7 đã giảm còn 3,5%, bằng mức trước đại dịch. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Mỹ được dự báo tăng 1,7% trong cả năm nay và 1% trong năm 2023 - theo cuộc khảo sát của Reuters.
Cũng theo khảo sát này, tỷ lệ thất nghiệp tại nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ bình quân 3,6% trong năm nay; 3,9% trong năm 2023 và 4% trong năm 2024, vẫn thấp hơn nhiều so với trong những cuộc suy thoái kinh tế trước đây của Mỹ.
Khi áp lực kinh tế gia tăng, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thường là nơi nhiều nền kinh tế tìm đến để được hỗ trợ, từ Argentina với những cuộc khủng hoảng tài chính liên tiếp đến Ukraine với nhu cầu vốn trong thời chiến…
Sau nhiều năm xuất khẩu ồ ạt sang châu Âu, gây sức ép lên lợi nhuận doanh nghiệp và việc làm tại khu vực này, Trung Quốc đang tạm thời xuống thang để có thêm thời gian đàm phán...
Nỗ lực tăng cường an ninh lương thực của Trung Quốc đã dẫn tới tình trạng dư thừa một lượng lớn thịt và sữa mà nước này không thể tiêu thụ hết...
Đức được cho là sẽ hối thúc Liên minh châu Âu (EU) nhanh chóng áp hạn ngạch đối với các nhóm hàng hóa khác nhập khẩu từ Trung Quốc, tương tự như mức trần mà khối này dự định áp dụng đối với xe hybrid...
“Tăng trưởng tất nhiên là có ích, nhưng không thể tạo ra những điều chỉnh cần thiết đủ nhanh. Mỹ cần phải có thêm các biện pháp tài khóa cụ thể”, Tổng giám đốc IMF nói
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.