Ngày 11/5, thông tin từ UBND TP. Hải Phòng cho biết thành phố đã thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030 với mục tiêu trở thành thành phố cảng công nghiệp hiện đại, văn minh, sinh thái, đáng sống vào năm 2030, có tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân 13 – 14%/năm.
TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG BÌNH QUÂN 14%/NĂM
Theo đó, Hải Phòng đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP giai đoạn 2026 - 2030 đạt bình quân từ 13 - 14%/năm. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp - xây dựng duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 15,2%/năm. Lĩnh vực dịch vụ duy trì mức tăng trưởng 10,9%/năm. Lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản tăng trưởng 8%/năm. Tỷ trọng GRDP của Hải Phòng chiếm khoảng 6% GDP cả nước. Đến năm 2030, thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn ước đạt 11.247 USD, nền kinh tế số đóng góp trên 35% GRDP.
Bên cạnh đó, Hải Phòng cũng đặt mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng từ 15,5 - 16%/năm. Trong đó, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 47- 48% GRDP, tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao chiếm khoảng 60% giá trị công nghiệp chế biến, chế tạo. Tổng vốn đầu tư trên địa bàn giai đoạn này khoảng 2,4 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 43% GRDP, trong đó, đầu tư công chiếm khoảng 10% tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn.
Các chỉ tiêu phát triển kinh tế chủ yếu đối với thành phố công nghiệp, cảng biển cũng được xác định là đến năm 2030, thu ngân sách đạt khoảng 245.500 tỷ đồng (thu nội địa đạt khoảng 122 nghìn tỷ đồng). Kim ngạch xuất khẩu đạt trên 75 tỷ USD; lượng hàng qua cảng đạt 380 triệu tấn, thu hút khoảng 25 triệu lượt khách du lịch. Mỗi năm có khoảng 9.200 doanh nghiệp mới thành lập, đến năm 2030, Hải Phòng có khoảng 87.000 doanh nghiệp hoạt động. Tốc độ tăng năng suất lao động toàn xã hội khoảng 11%/năm.
Trước thời điểm hợp nhất, Hải Phòng đã cơ bản hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm xã hội đã đạt được những thành tựu cơ bản. Tuy nhiên, sau khi hợp nhất mở rộng địa giới hành chính, các chỉ tiêu này cần điều chỉnh cho phù hợp quy mô và thực trạng. Hải Phòng đặt mục tiêu đến năm 2030, toàn thành phố có khoảng 80% xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 50% xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, 62 - 63% lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội.
THU HÚT VỐN TƯ NHÂN VÀO 5 DỰ ÁN QUY MÔ LỚN
Nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, bên cạnh các nhóm nhiệm vụ giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng, Hải Phòng dự kiến triển khai 12 đề án trọng điểm cùng hơn 40 dự án quy mô lớn, đóng vai trò nền tảng cho phát triển dài hạn.
Trong 12 đề án trọng điểm, nổi bật là các đề án điều chỉnh Quy hoạch thành phố Hải Phòng và Quy hoạch chung thành phố, quy hoạch Khu kinh tế ven biển phía Nam, Cảng hàng không quốc tế Hải Phòng và không gian ngầm đô thị. Đồng thời xây dựng hồ sơ đề xuất thành lập Khu thương mại tự do, Khu kinh tế chuyên biệt và Khu kinh tế phía Bắc.
Bên cạnh đó là các công trình giao thông chiến lược như dự án tuyến đường nối quốc lộ 5 - quốc lộ 10, tuyến Cầu Rào 3 – đường ven biển, các đoạn vành đai 2, vành đai 3, cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng, trục giao thông Đông – Tây, các tuyến kết nối cảng Lạch Huyện, khu kinh tế với sân bay Gia Bình. Hải Phòng cũng phối hợp triển khai các dự án quy mô quốc gia và liên vùng như tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, tuyến đường sắt Móng Cái – Hạ Long – Hải Phòng, Vành đai 5 vùng Thủ đô và các hạng mục mở rộng Cảng hàng không quốc tế Cát Bi.
Ngoài các dự án đầu tư công, Hải Phòng dự định huy động khu vực tư nhân tham gia 5 dự án quy mô lớn như dự án khu du lịch sinh thái hồ Thanh Long và hồ Bến Tắm được định hướng phát triển thành các tổ hợp nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí tổng hợp, góp phần mở rộng không gian du lịch và dịch vụ chất lượng cao, dự án nhà máy điện khí LNG Hải Phòng, dự án nhà máy xử lý rác thải Seraphin tại Hải Dương…
Việc triển khai đồng bộ 12 đề án và hơn 40 công trình trọng điểm không chỉ tạo lập hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại mà còn mở rộng không gian phát triển, tăng cường liên kết vùng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Các đề án về quy hoạch và chuyển đổi mô hình tăng trưởng đóng vai trò định hướng chiến lược, trong khi các công trình hạ tầng và dự án quy mô lớn là động lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng.