Tại hội thảo khoa học "Đánh giá 5 năm thực hiện Bộ
Luật Lao động 2019" do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức ngày 15, 16-1, các chuyên gia cho rằng lao động phi chính thức không
phải là một khu vực tạm thời mà là bộ phận cấu thành hữu cơ của nền kinh tế thị
trường.
Việc hoàn thiện Bộ luật Lao động 2019 theo hướng thu hẹp khoảng cách giữa
chính thức và phi chính thức không chỉ bảo vệ quyền con người của người lao động
mà còn thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Theo ông Nguyễn Huy Khánh, Phó Chủ tịch Liên đoàn
Lao động TP. Hà Nội, tính đến năm 2025, số lao động phi chính thức ở Hà Nội là
1,92 triệu người (tăng 16,8% so với năm trước) và chiếm 51,6% tổng số lao động
có việc làm.
“Lao động phi chính thức đang chiếm tỷ trọng lớn
trong cơ cấu thị trường lao động, tác động mạnh mẽ đến phát triển và bảo đảm việc
làm nói chung. Tuy nhiên, hầu hết lực lượng lao động này có trình độ chuyên
môn, học vấn thấp hoặc những người đến từ khu vực nông thôn, thiếu cơ hội việc
làm chính thức. Công việc chủ yếu tập trung ở các ngành nghề có tính chất dễ
thay đổi, thiếu bền vững, bấp bênh, ít được bảo vệ bởi pháp luật lao động vì không ký kết hợp đồng lao động”,
ông Khánh chia sẻ.
Với đặc điểm như vậy, hầu hết lao động phi
chính thức không được hưởng các chế độ an sinh, phúc lợi xã hội như lao động
chính thức. Phương tiện, môi trường làm việc của nhóm này chỉ ở mức cơ bản; nhiều
nghề, công việc còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn vệ sinh lao động.
Đặc biệt, lao động phi chính thức thường ở thế
yếu trong thương lượng để bảo đảm điều kiện làm việc cũng như cơ hội, yêu cầu
nâng cao thu nhập. Điều đó dẫn đến hệ quả là nhiều người lao động trong khu vực
này có thu nhập thấp hơn so với mức lương tối thiểu vùng.
TS. Nhạc Phan Linh, Phó Viện trưởng Viện Chiến
lược và Chính sách Mặt trận, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, cho biết khu vực
lao động phi chính thức vẫn đang đối mặt với nhiều khoảng trống pháp lý.
Theo số liệu Tổng cục Thống kê, giai đoạn
2020-2025, số lao động có việc làm phi chính thức thường xuyên duy trì ở mức
cao (khoảng 33-35 triệu người). Tính đến quý 4/2025, số lao động có việc làm
phi chính thức đạt khoảng 33,1 triệu người (chiếm 62,4% tổng số lao động có việc
làm).
Về phân bổ theo ngành nghề, ngành dịch vụ là
lĩnh vực việc làm lớn nhất cho lao động phi chính thức, với tỷ trọng lao động
chiếm 40,8%. Công nghiệp và xây dựng đứng thứ hai, với 33,5%. Đáng chú ý, tỷ lệ
tồn kho của ngành chế biến, chế tạo năm 2025 tăng lên 81,1%, gián tiếp đẩy một
lượng lớn lao động chính thức ra khỏi khu vực có hợp đồng lao động để trở thành
lao động tự do.
Năm 2025 cũng chứng kiến sự biến động mạnh của
khu vực doanh nghiệp, gây hệ lụy trực tiếp đến an sinh của lao động phi chính
thức. Số lượng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường khoảng 227,2 nghìn doanh
nghiệp (tăng 14,8% so với 2024). Bình quân mỗi tháng có gần 19 nghìn doanh nghiệp
dừng hoạt động.
Khi doanh nghiệp giải thể, lao động phi chính
thức là nhóm đầu tiên mất việc nhưng là nhóm cuối cùng, hoặc không bao giờ nhận
được trợ cấp. Do không được tham gia bảo hiểm thất nghiệp, nhóm này gần như
"trắng tay" khi mất nguồn thu nhập.
Ngoài ra còn tình trạng bất cập về thu nhập. Mặc
dù thu nhập bình quân của người lao động năm 2025 đạt 8,4 triệu đồng/tháng,
nhưng có sự phân hóa sâu sắc. Thu nhập của lao động khu vực thành thị (khoảng
10,5 triệu đồng) cao gấp 1,23 lần khu vực nông thôn (nơi tập trung 2/3 lượng lao
động phi chính thức), làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng an sinh.
Theo ông Linh, những khoảng trống pháp lý và bất
cập nảy sinh phải kể đến với lao động phi chính thức phải kể đến như: Khó khăn
trong việc nhận diện quan hệ lao động; khoảng trống về tiêu chuẩn lao động cơ bản;
an toàn vệ sinh lao động; quyền thương lượng tập thể và đại diện; an sinh xã hội
và bảo hiểm thất nghiệp.
Vì vậy, chuyên gia đề xuất xây dựng "gói
an sinh linh hoạt" cho nhóm này, cho phép họ đóng góp và hưởng các quyền lợi
ngắn hạn tương tự như khu vực chính thức.
“Với quy mô chiếm hơn 60% tổng số lao động đang
làm việc, việc nhận diện và bảo vệ quyền lợi cho nhóm đối tượng này không chỉ
là yêu cầu về công bằng xã hội, mà còn là điều kiện tiên quyết để xây dựng quan
hệ lao động hài hòa, ổn định”, TS. Nhạc Phan Linh nhấn mạnh.