
Mới đây, tại thành phố Vinh, Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An đã tổ chức Hội thảo “Tưới ngập khô xen kẽ – Giải pháp giảm phát thải khí nhà kính trong canh tác lúa bền vững”. Hội thảo cho thấy những kết quả tích cực và tiềm năng lớn của mô hình tưới tiết kiệm nước trong nông nghiệp xanh.
Bắt đầu từ vụ Xuân năm 2024, dự án “Tưới ngập khô xen kẽ – Giải pháp giảm phát thải khí nhà kính trong canh tác lúa bền vững” đã được triển khai thí điểm tại 5 huyện: Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Diễn Châu và Đô Lương, với tổng diện tích 5.713 ha. Chỉ sau một năm, đến vụ Xuân năm nay, dự án đã mở rộng thêm tại hai huyện Thanh Chương và Quỳnh Lưu, nâng tổng diện tích canh tác theo phương pháp này lên 20.029 ha, gần gấp 4 lần so với ban đầu.
Việc mở rộng nhanh chóng diện tích cho thấy sự đồng thuận cao từ người dân và chính quyền địa phương đối với mô hình canh tác mới. Theo đánh giá của các chuyên gia, kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ đã chứng minh được hiệu quả thực tiễn rõ rệt về cả môi trường và kinh tế.
Qua các vụ sản xuất đã triển khai, dự án ghi nhận mức giảm phát thải khí nhà kính trên 50% so với phương thức canh tác lúa truyền thống ngập nước liên tục. Đây là một con số ấn tượng, khẳng định giá trị môi trường nổi bật của mô hình.
Bên cạnh đó, phương thức canh tác này cũng giúp tiết kiệm nước tưới, giảm chi phí bơm tưới và hạn chế sâu bệnh, từ đó làm giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật phải sử dụng.
Đáng chú ý, năng suất lúa bình quân tăng nhẹ và đặc biệt, nông dân có cơ hội gia tăng thu nhập từ việc bán tín chỉ carbon một hướng đi mới đang dần hình thành trong nền nông nghiệp hiện đại.
Theo đại diện Công ty TNHH Green Carbon Japan Việt Nam, đơn vị triển khai dự án tại Nghệ An, việc xác lập tín chỉ carbon cho diện tích lúa giảm phát thải đã bắt đầu được thực hiện và sẽ là nguồn thu nhập bổ sung tiềm năng cho người nông dân trong tương lai gần.
Không dừng lại ở lợi ích môi trường, mô hình còn góp phần xây dựng chuỗi giá trị mới cho ngành lúa gạo Nghệ An. Công ty Green Carbon Japan Việt Nam đã ký kết hợp tác với Công ty Gạo TH để thu mua lúa sản xuất theo phương pháp tưới ngập khô xen kẽ, đồng thời đang xúc tiến các thủ tục xây dựng thương hiệu gạo giảm phát thải, hướng đến tiêu chuẩn quốc tế và thị trường xuất khẩu.
Ông Phan Tiến Thành đại diện Công ty Green Carbon Japan Việt Nam, cho biết gạo được sản xuất theo quy trình này sẽ được kiểm soát nghiêm ngặt về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng để xuất khẩu sang các thị trường cao cấp.
Dự kiến, mô hình có thể giúp nông dân tăng thêm khoảng 10% thu nhập nhờ giá gạo cao hơn và ổn định hơn thông qua các hợp đồng tiêu thụ dài hạn.
Bên cạnh hiệu quả về môi trường và kinh tế, mô hình tưới ngập khô xen kẽ còn mang lại thay đổi trong tập quán canh tác truyền thống. Việc thay đổi phương pháp tưới đã góp phần tạo đa dạng sinh thái đồng ruộng, cải thiện chất lượng đất, bảo tồn nguồn tài nguyên sản xuất lúa trong dài hạn.
Ông Vũ Duy Hoàng, Phó Giám đốc Trung tâm Nông nghiệp hữu cơ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, nhấn mạnh: “thành công khi triển khai dự án trên quy mô lớn đã chứng minh tính ưu việt của kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ. Đây là tiền đề để tiếp tục mở rộng diện tích, hướng tới canh tác xanh, thân thiện với môi trường, phục vụ phát triển bền vững”.
PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, khẳng định mô hình là hướng đi đúng đắn, phù hợp với chính sách phát triển nông nghiệp bền vững của tỉnh và quốc gia trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng cao.
Trên cơ sở kết quả đạt được, tỉnh Nghệ An dự kiến sẽ tiếp tục phối hợp với các bên liên quan để mở rộng diện tích tưới ngập khô xen kẽ trên địa bàn tỉnh.
Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, song tại hội thảo, các chuyên gia cũng chỉ ra một số khó khăn cần khắc phục trong giai đoạn tới như: thiếu đồng bộ về hệ thống thủy lợi, thiết bị đo mực nước, hệ thống ghi nhận và báo cáo thông số kỹ thuật tại ruộng.
Ngoài ra, theo chuyên gia, vấn đề nhận thức và kỹ năng của một bộ phận nông dân và cán bộ kỹ thuật địa phương còn hạn chế, cần được tăng cường thông qua công tác tuyên truyền và tập huấn...
Từ con tàu “Lenin” của Liên Xô đến đội tàu phá băng hạt nhân thế hệ mới của Nga, những con tàu này không chỉ mở đường xuyên qua lớp băng dày ở Bắc Cực mà còn trở thành một phần quan trọng trong chiến lược phát triển Tuyến đường biển phương Bắc (NSR). Với khả năng duy trì hoạt động dài ngày trong điều kiện khắc nghiệt, đội tàu góp phần bảo đảm vận chuyển dầu khí, khoáng sản và hàng hóa, đồng thời tạo nền tảng hạ tầng cho phát triển kinh tế, năng lượng và logistics tại Bắc Cực…
Thay vì chỉ phát triển các khu công nghiệp mới theo tiêu chí xanh, TP. Đồng Nai đang đặt ra lộ trình chuyển hóa những khu công nghiệp đã hình thành sang mô hình xanh, sinh thái. Từ sản xuất sạch hơn, cộng sinh công nghiệp đến sử dụng năng lượng hiệu quả và kiểm kê khí nhà kính, quá trình này đang được cụ thể hóa bằng một loạt kế hoạch trong năm 2026.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất 18 lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ mà người có chức vụ, quyền hạn trong lĩnh vực đó sau khi thôi giữ chức vụ không được thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã, tăng 5 lĩnh vực so với quy định hiện hành...
Việt Nam đang nghiên cứu phát triển các trung tâm công nghiệp - dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng điện gió, điện mặt trời và thúc đẩy hình thành chuỗi cung ứng công nghiệp xanh trong nước. Với vai trò kết nối sản xuất điện, chế tạo thiết bị, hạ tầng cảng biển, logistics và đào tạo nhân lực, mô hình này được kỳ vọng tạo động lực mới cho chuyển dịch năng lượng và công nghiệp xanh...
Từng phổ biến trong những khu vườn thời Xô viết nhưng dần bị các giống mận phù hợp hơn với sản xuất công nghiệp thay thế, Mirabelle đang trở lại tại nhiều khu vườn ở Nga. Câu chuyện về một giống cây có quả nhỏ, mềm, khó vận chuyển nhưng giàu hương vị không chỉ cho thấy sự thay đổi trong thị hiếu tiêu dùng, mà còn gợi mở cách nhìn mới về bảo tồn nguồn gen, chế biến tại chỗ và phát triển nông nghiệp xanh...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập bình quân ngay trong tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%.