Sau hơn 2 năm điêu đứng bởi đại dịch, ông thấy sức khoẻ của các nhà thầu xây dựng Việt Nam hiện nay thế nào?
Sau hơ̛n 2 nă̆m dịch Covid-19, tuy vẫn còn rất nhiều khó khă̆n nhưng các doanh nghiệ̂p ngành xâ̂y dựng đã cố gắng khắc phục để triển khai sản xuất kinh doanh góp phần sớm phục hồi phát triển kinh tế đất nước.
Tuy nhiên, quy mô của các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam rất nhỏ, khoảng 90% doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 100 tỷ đồng. Các doanh nghiệp lớn trong ngành cũng chỉ phổ biến từ 500-1.000 tỷ đồng. Số doanh nghiệp có vốn trên 1.000 tỷ đồng chỉ đếm được trên đầu ngón tay.
Hơn nữa, khi thực hiện các hợp đồng xây dựng, phần lớn nhà thầu chỉ được tạm ứng 10-15% giá trị hợp đồng nên khi triển khai thực hiện phải sử dụng vốn vay ngân hàng để mua vật tư, huy động xe máy, nhân công…, nhất là trong bối cảnh hiện nay tín dụng cho doanh nghiệp xây dựng bị hạn chế và mặt bằng lãi suất còn cao thì doanh nghiệp xây dựng càng khó khăn.
Trong khi đó, nợ đọng không thanh toán được khá phổ biến ở tất cả các doanh nghiệp, các tổng công ty, tập đoàn xây dựng. Hầu hết đều có nợ đọng từ vài trăm đến vài nghìn tỷ. Vốn hẹp, phải vay ngân hàng để trang trải thi công với lãi suất thông thường khoảng 9-10%/năm nên có những tập đoàn một quý năm 2022 đạt doanh thu đến 3.000 tỷ nhưng hiệu quả chỉ xấp xỉ 10 tỷ đồng (do bị nợ đọng và phải trả lãi ngân hàng).
Có thể nói, nợ đọng xây dựng là vấn đề nhức nhối trong nhiều năm qua và cũng là nguyên nhân làm bào mòn sức khoẻ của nhà thầu xây dựng Việt. Nếu tình hình này không được giải quyết thì 5-6 năm nữa, Việt Nam sẽ không còn nhà thầu xây dựng.
Nợ đọng xây dựng thường diễn ra ở những công trình nào, thưa ông?
Nợ đọng xây dựng diễn ra ở cả các công trình vốn đầu tư công và công trình có vốn đầu tư ngoài ngân sách.
Với nợ đọng tại các công trình có vốn ngoài ngân sách thì thường do chủ đầu tư năng lực kém không có đủ năng lực tài chính nên vay mượn không được, phát hành trái phiếu không được, không bán được hàng (đối tượng này chiếm 20-30%). Ngoài ra, còn do một số chủ đầu tư chây ì, cố tình không thanh quyết toán, đặc biệt ở 25% cuối của dự án mặc dù đã đưa vào khai thác sử dụng. Ví như Artemit đã bán hết nhà nhưng không thanh toán cho Delta…
Còn với các công trình có vốn đầu tư công, các khoản nợ chủ yếu từ các công trình đã kết thúc 2-3 năm trước nhưng chưa quyết toán và thanh toán được do có phát sinh hoặc do hồ sơ thanh toán chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt nên vẫn còn tồn đọng. Khi khối lượng phát sinh vượt quá giá trị dự toán gói thầu ban đầu (dù không phải lỗi do nhà thầu) thì vấn đề điều chỉnh dự toán của gói thầu phải là cấp có thẩm quyền phê duyệt chứ chủ đầu tư không giải quyết được nên dẫn đến nợ đọng.
Chờ giải quyết được thì vô cùng lâu. Vì năm nay vốn đầu tư công chỉ được bố trí bằng đó, phải đợi sang năm, năm nữa… Mà năm sau nguồn vốn lại được bố trí thấp hơn… nên không đủ thanh toán nợ. Nhiều công trình nợ tới hàng chục năm, qua nhiều nhiệm kỳ của lãnh đạo công ty cũng như lãnh đạo quản lý Nhà nước. Ví như Licogi bị nợ ở dự án nhà ga T1 mấy chục tỷ, mấy đời giám đốc chưa giải quyết được…
Với những khó khăn như ông vừa nói thì liệu các nhà thầu có khả năng đòi được nợ ở những công trình này không?
Với các công trình ngoài ngân sách, bất đắc dĩ đã có một số nhà thầu phải kiện chủ đầu tư ra toà nhưng cũng còn nhiều dùng dằng chưa giải quyết được dứt điểm.
Còn với các công trình có vốn ngân sách, có đòi được hay không còn phụ thuộc vào trách nhiệm cá nhân của lãnh đạo các đơn vị nhà nước. Thực tế thì khi có Luật Đầu tư công, các địa phương, đơn vị Nhà nước phải xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn thay vì hàng năm như trước. Mà theo nguyên tắc thì không thể lấy vốn trung hạn để bố trí trả các khoản nợ trước đây được.
Ngoài ra, muốn hồi tố cũng phải theo cơ chế thời kỳ đó, nhưng nhiều cơ quan áp dụng cơ chế bây giờ nên không giải quyết được. Bởi vậy, có thể nói các khoản nợ đó vẫn sẽ tiếp tục là “nợ treo”.
Để khắc phục tình trạng này, giải pháp lúc này là gì? Với vai trò Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam, các ông đã đề xuất giải pháp nào?
Hiệp hội đã kiến nghị Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính rà soát lại các chủ đầu tư vốn ngân sách để thống kê chính xác số lượng nợ tồn xây dựng trong các năm trước, báo cáo Thủ tướng phương án cắt hết các nợ dồn toa để giải quyết dứt điểm cho các nhà thầu.
Đồng thời giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Xây dựng nghiên cứu chế tài yêu cầu chủ đầu tư phải có bảo lãnh thanh toán của ngân hàng cho 20% vốn thanh toán cuối dự án, khi dự án kết thúc để đảm bảo sự bình đẳng cho các nhà thầu với chủ đầu tư. Trước mắt, có chế tài cụ thể để cơ quan chức năng giải quyết cho các khoản nợ đọng kể cả biện pháp công bố tình trạng chây ì thanh toán của một số chủ đầu tư; nghiên cứu xem xét mô hình hợp đồng cho từng loại hình đầu tư trong đó ở loại hình đầu tư ngoài ngân sách cần có cơ chế bảo lãnh thanh toán của chủ đầu tư ở 20% cuối cùng. Bên cạnh đó, xem xét điều chỉnh các loại hình hợp đồng phù hợp với thông lệ quốc tế (FIDIC) cụ thể dạng hợp đồng trọn gói chỉ được áp dụng khi các yếu tố đầu vào được xác định rõ ràng cộng với tiến độ chỉ thực hiện trong vòng 24 tháng.
Về cơ chế thanh quyết toán, cần có chế tài bình đẳng giữa các chủ thể hợp đồng, đặc biệt cần quy định rõ cơ chế xử lý các khối lượng phát sinh trong hợp đồng (nhất là với đầu tư công về quyền hạn phê duyệt của chủ đầu tư để được thanh toán); đối với các khoản chậm trả do lỗi của chủ đầu tư cần có chế tài phạt theo lãi suất ngân hàng thương mại áp dụng.
Chúng tôi cũng đã đề nghị Thủ tướng giao Bộ Xây dựng cùng với các hiệp hội doanh nghiệp nghiên cứu bổ sung, thay đổi hệ thống định mức đơn giá theo lộ trình: trước mắt, bổ sung các định mức chưa có và điều chỉnh từng bước cập nhật với công nghệ xây dựng mới đồng thời chuyển hướng dần theo hướng xây dựng đơn giá tổng hợp để lập tổng mức đầu tư cho các dự án, bỏ dần hệ thống định mức chi tiết; có chế tài với các địa phương trong việc công bố các chỉ số giá vật liệu không cập nhật với giá thị trường…
Tôi hy vọng với sự quan tâm sát sao của Chính phủ, các bộ ngành, thì những khó khăn, vướng mắc của các nhà thầu xây dựng sẽ sớm được tháo gỡ, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
VnEconomy 25/08/2022 09:00
Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Có những vùng đất càng đi chậm càng thấy nhiều điều đáng giá. Một mái thành rêu phong ở Huế, dòng nước trong veo dưới chân Trường Sơn, hang động được gìn giữ qua triệu năm hay nếp nhà nép bên sườn núi đều có thể mở ra sinh kế mới. Nhưng giá trị không nằm ở việc đón thật đông người hay dựng thêm thật nhiều dịch vụ. Hành trình qua Huế, Sơn Đoòng và những bản làng phía Tây gợi một cách làm khác: để di sản bước vào đời sống hôm nay mà vẻ đẹp, ký ức và phần dành cho mai sau vẫn vẹn nguyên.
Nhân dịp Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Ngày Công dân số Việt Nam (15/10), trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ về những bước tiến trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, tạo lập, khai thác dữ liệu và các định hướng mới của thành phố. Trong đó, việc đồng bộ dữ liệu được xác định là nền tảng để các dịch vụ số ngày càng thuận tiện, thiết thực hơn và người dân là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.