VnEconomy
VnEconomy

Ông đánh giá như thế nào về tiềm năng cũng như kết quả nuôi biển của Việt Nam thời gian qua?

Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành trung ương Đảng khóa 12 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đặt ra nhiều mục tiêu quan trọng, trong đó có duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế biển khoảng 8%/năm và đưa kinh tế biển đóng góp khoảng 15% GDP.

Nguồn lợi hải sản tự nhiên ngày càng hạn chế. Trữ lượng được điều tra khoảng 3,9 triệu tấn, trong khi sản lượng khai thác khoảng 3,8 triệu tấn. Vì vậy, chúng ta phải giảm cường lực khai thác và chuyển mạnh sang phát triển nuôi biển.

Giai đoạn 2021-2025, sản lượng nuôi biển tăng bình quân khoảng 8,4%/năm. Năm 2025, sản lượng nuôi biển đạt khoảng 859 nghìn tấn, vượt mục tiêu đề ra; giá trị xuất khẩu từ nuôi biển đạt trên 1,2 tỷ USD; riêng tôm hùm đạt khoảng 854 triệu USD. Đây là những con số cho thấy nuôi biển đang trở thành một động lực tăng trưởng mới của ngành thủy sản.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn đã bắt đầu đầu tư hàng trăm triệu USD vào nuôi biển tại Khánh Hòa, với lồng nuôi hiện đại, thiết bị tiên tiến. Quảng Ninh, Kiên Giang và một số địa phương khác cũng đang triển khai những hướng đi tương tự.

Trong các đối tượng nuôi biển, tôm hùm là một lợi thế so sánh lớn của Việt Nam. Ninh Thuận, Phú Yên và Khánh Hòa là những địa phương có thế mạnh về nuôi tôm hùm. Rong biển cũng là một lĩnh vực có tiềm năng rất lớn. Việt Nam đã có doanh nghiệp bắt đầu đầu tư với quy mô lớn. Đáng chú ý, đến nay chúng ta đã chủ động được nguồn giống rong biển.

Mục tiêu đến năm 2030 đạt 1,4-1,5 triệu tấn sản phẩm nuôi biển và 1,82 tỷ USD xuất khẩu sản phẩm nuôi biển là hoàn toàn khả thi.

VnEconomy

Theo ông, đâu là những “điểm nghẽn” lớn nhất cần tháo gỡ và làm sao để tạo động lực cho các nhà khoa học cùng doanh nghiệp thúc đẩy nuôi biển phát triển bền vững?

Để phát triển bền vững ngành thủy sản, trong đó có lĩnh vực nuôi biển, cần đồng bộ tháo gỡ nhiều “điểm nghẽn”. Cụ thể, về hạ tầng vùng nuôi, giao thông, điện, nước phải được đầu tư tương xứng. Đồng thời, khơi thông dòng vốn tín dụng ưu đãi cho người dân và doanh nghiệp.

Ngành cũng cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ thực tiễn, chuẩn hóa con giống và mở rộng chế biến sâu nhằm nâng cao chuỗi giá trị. Đồng thời, việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cùng hợp tác quốc tế sâu rộng là yếu tố mang tính quyết định. Bên cạnh đó, giải pháp chuyển đổi nghề cho ngư dân sang du lịch ven biển sẽ giúp giảm áp lực khai thác tự nhiên và đảm bảo sinh kế bền vững.

Hiện nay, doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia khá tích cực vào nuôi biển, nhưng chủ yếu vẫn là nuôi nhỏ lẻ, ven bờ. Nuôi xa bờ, nuôi công nghệ cao và nuôi theo chuỗi còn hạn chế. Đến nay, lồng bè truyền thống vẫn chiếm đa số, nhiều nơi còn sử dụng tre, nứa, trong khi mật độ nuôi quá dày cũng gây áp lực lên môi trường và làm gia tăng nguy cơ dịch bệnh. Muốn thay đổi thực trạng này, trước hết phải đầu tư mạnh hơn cho khoa học, công nghệ và hệ thống nghiên cứu biển.

Tôi làm khoa học, công nghệ nhiều năm và nhận thấy rất rõ rằng muốn có thành tựu thì phải tạo được động lực cho các nhà khoa học. Đối với nuôi biển, cần phát triển đồng bộ hệ thống công nghệ, từ thiết bị nuôi, thiết bị hỗ trợ sản xuất, công nghệ giống, thức ăn đến các giải pháp kỹ thuật khác. Quan trọng là phải lựa chọn và làm chủ những công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam, có khả năng ứng dụng thực tế.

Đối với khai thác, cần đặc biệt quan tâm đến công nghệ bảo quản sau thu hoạch và hiện đại hóa tàu cá. Hiện nay, mỗi chuyến biển kéo dài 15-20 ngày nhưng tỷ lệ thất thoát sản lượng khi cập bờ có thể lên tới 15 - 40%. Vì vậy, cần nghiên cứu công nghệ bảo quản và thiết kế các mẫu tàu hiện đại, phù hợp với từng nghề, từng vùng biển và điều kiện thực tế của ngư dân.

Nuôi biển là lĩnh vực có rủi ro cao nhưng vốn đầu tư lớn. Nếu công nghệ chưa được kiểm chứng, nhà đầu tư sẽ khó mạnh dạn bỏ vốn. Vì vậy, phải nghiên cứu, trình diễn và làm chủ công nghệ, chứng minh khả năng kiểm soát rủi ro trong sản xuất. Khi công nghệ tạo được niềm tin, chúng ta mới có thể thu hút thêm nguồn lực xã hội, thúc đẩy nuôi biển phát triển theo hướng hiện đại, quy mô lớn và bền vững.

VnEconomy

Trước thực trạng tự chủ con giống nuôi biển còn thấp, Việt Nam cần giải pháp gì để tháo gỡ điểm nghẽn công nghệ sản xuất giống, từng bước giảm phụ thuộc nguồn nhập khẩu?

Việt Nam có nhiều đối tượng thủy sản biển có tiềm năng phát triển như cá hồng Mỹ, cá song chấm, cá chim vây vàng, tôm hùm, cua, ghẹ và rong biển. Đây là những loài có lợi thế để phát triển nuôi biển. Tuy nhiên, một trong những vấn đề nan giải hiện nay là con giống.

Đến nay, khả năng tự chủ giống cho nuôi biển vẫn rất thấp, chỉ khoảng 5-7%. Nhiều loại giống vẫn phải nhập khẩu từ Trung Quốc, với tôm thẻ chân trắng, mỗi năm chúng ta vẫn phải nhập khẩu khoảng 159.000 con giống phục vụ sản xuất. Đây là bài toán cần tập trung nghiên cứu và giải quyết.

Với tôm hùm bông, bài toán cũng đang khó khăn. Phía Trung Quốc yêu cầu tôm hùm nhập khẩu phải được nuôi từ giống F2, trong khi cả Việt Nam và Trung Quốc đều chưa làm chủ hoàn toàn công nghệ sản xuất loại giống này. Vì vậy, Việt Nam cần tiếp tục trao đổi, đề nghị với phía bạn điều chỉnh quy định hoặc hỗ trợ về công nghệ sản xuất giống tôm hùm bông.

Gần đây, một doanh nghiệp Việt Nam đã triển khai thí điểm nuôi cá nóc hổ của Nhật Bản. Sau khoảng hai năm nuôi, cá có thể đạt 3 kg, giá bán khoảng 1,3 triệu đồng/kg và có thị trường Nhật Bản thu mua. Đây là hướng đi đáng chú ý, nhưng để phát triển đối tượng nuôi mới, trước hết phải làm chủ kỹ thuật nuôi và công nghệ sản xuất giống, ứng dụng công nghệ sinh học để chủ động sinh sản và sản xuất giống các loài cá biển.

VnEconomy

Việc cấp quyền sử dụng mặt biển có ý nghĩa thế nào đối với phát triển nuôi biển, vướng mắc về thủ tục, pháp lý cần được tháo gỡ ra sao, thưa ông?

Đối với sản xuất nông nghiệp trên đất liền, người dân được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hay còn gọi là “sổ đỏ”. Trong khi đó, với nuôi biển, việc cấp quyền sử dụng mặt biển và không gian biển cũng rất quan trọng, tạo cơ sở pháp lý để người dân, doanh nghiệp yên tâm đầu tư lâu dài.

Vấn đề này đã được đặt ra từ nhiều năm trước, nhưng việc triển khai giữa các địa phương chưa đồng nhất. Có nơi như Quảng Ninh thực hiện khá nhanh, trong khi nhiều địa phương còn chậm, do các quy định pháp luật trước đây chưa thực sự rõ ràng.

Trước đây, quản lý thủy sản và tài nguyên, môi trường biển thuộc các bộ khác nhau. Vì vậy, để được giao mặt biển phục vụ nuôi trồng thủy sản, doanh nghiệp và người dân phải thực hiện thủ tục qua nhiều cơ quan, có thời điểm cần sự tham gia của tới 6 bộ. Điều này khiến thủ tục phức tạp, cách triển khai giữa các địa phương chưa thống nhất.

Do đó, thủ tục giao và cấp quyền sử dụng mặt biển cần tiếp tục được rà soát, đơn giản hóa, trừ những khu vực liên quan đến quốc phòng, an ninh. Việc hợp nhất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Bộ Tài nguyên và Môi trường thành Bộ Nông nghiệp và Môi trường tạo điều kiện để công tác quản lý, giao mặt biển được thống nhất, thuận lợi hơn.

Hiện, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng dự thảo Luật sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo để trình Quốc hội. Theo dự thảo, tổ chức, cá nhân có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển, đồng thời được chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng này. Dự kiến trong tháng 10/2026, Quốc hội sẽ xem xét việc sửa đổi luật.

Bên cạnh đó, các nghị định, thông tư hướng dẫn cũng cần được hoàn thiện theo hướng tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp đầu tư nuôi biển. Việc cấp quyền sử dụng mặt biển không chỉ giúp người dân, doanh nghiệp yên tâm đầu tư lâu dài mà còn có thể trở thành tài sản để thế chấp, qua đó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, tương tự giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên đất liền.

VnEconomy

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 37-2026 phát hành ngày 14/9/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-37-2026.html

VnEconomy

Nắm bắt nhu cầu nhà ở thực tế để giữ nhân lực chất lượng cao

Để làm rõ vấn đề này, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy giới thiệu ý kiến của đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp về thực trạng, triển vọng nhu cầu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam; những vướng mắc trong quá trình thực thi chính sách; đồng thời đề xuất giải pháp phát triển nguồn cung phù hợp, minh bạch hóa thông tin và tăng cường kết nối cung - cầu…

Không để doanh nghiệp Việt tự mò mẫm tìm đường vào chuỗi cung ứng điện tử của khối FDI

Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA), cho rằng rào cản lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam không chỉ là đáp ứng tiêu chuẩn của khối FDI, mà còn nằm ở mạng lưới cung ứng sẵn có của các tập đoàn này. Do đó cần có sự cởi mở hơn từ doanh nghiệp FDI và thay đổi cách tiếp cận trong hỗ trợ nhà cung ứng trong nước, qua đó thúc đẩy kết nối và phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam.

Không nên xem nhà ở cho người nước ngoài là thị trường ngách

Trả lời phỏng vấn báo chí bên lề hội thảo “Nhà ở cho người nước ngoài sống và làm việc tại Thành phố Bắc Ninh” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy phối hợp với Ủy ban Nhân dân Thành phố Bắc Ninh tổ chức mới đây, ông Phạm Văn Thịnh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Bắc Ninh, cho biết cùng với quá trình thu hút đầu tư và mở rộng sản xuất, nhu cầu nhà ở của chuyên gia, nhà quản lý và người lao động nước ngoài tại địa phương ngày càng gia tăng.

Từ nguồn lực đến năng lực sáng tạo

Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.

Đón "đại bàng" có chọn lọc

Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.

Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy