VnEconomy
VnEconomy

Từ một nền kinh tế thuộc địa, nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp yếu và nguồn lực kiệt quệ, Việt Nam đã trải qua chiến tranh, chia cắt, thống nhất đất nước và bốn thập niên Đổi mới để trở thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có quy mô ngày càng lớn và hội nhập sâu rộng.

Tuy nhiên, cạnh tranh công nghệ, biến đổi khí hậu, già hóa dân số và phân mảnh kinh tế toàn cầu đang làm thay đổi các điều kiện phát triển. Hành trình 81 năm vì thế không chỉ để nhìn lại thành tựu, mà còn đặt ra yêu cầu chuyển sang mô hình dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực tự chủ, hướng tới phát triển nhanh, bền vững, bao trùm và phồn vinh.

VnEconomy

Khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời năm 1945, nền kinh tế ở trong tình trạng đặc biệt khó khăn. Hơn hai triệu người vừa thiệt mạng trong nạn đói; trên 90% dân số mù chữ. Cả nước chỉ có 12 công trình thủy nông nhỏ, bảo đảm tưới cho khoảng 15% diện tích canh tác; ngay trong năm được mùa 1939, năng suất lúa bình quân cũng chỉ hơn 10 tạ/ha. Hệ thống y tế có 213 bác sĩ, tương đương chưa đến 0,1 bác sĩ trên một vạn dân. Những con số ấy cho thấy nền độc lập được giành lại từ một điểm xuất phát kinh tế - xã hội rất thấp.

Trong ba thập niên tiếp theo, công cuộc xây dựng kinh tế diễn ra trong điều kiện chiến tranh và đất nước bị chia cắt. Dù nguồn lực hạn hẹp và cơ sở vật chất bị tàn phá, Việt Nam vẫn từng bước xác lập hệ thống tài chính, ngân hàng, thương mại và quản lý nhà nước; khôi phục nông nghiệp, phát triển công nghiệp và đào tạo nhân lực. Ở miền Bắc, những cơ sở ban đầu của công nghiệp và kết cấu hạ tầng được hình thành, đồng thời nền kinh tế đảm nhiệm vai trò hậu phương cho sự nghiệp thống nhất đất nước.

Sau năm 1975, thống nhất lãnh thổ tạo điều kiện tổ chức lại nền kinh tế trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, hậu quả chiến tranh, môi trường quốc tế bất lợi và những hạn chế của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp đã làm suy giảm động lực sản xuất, gây khan hiếm hàng hóa và mất cân đối vĩ mô. Giai đoạn 1945-1985 vì thế không chỉ được đánh giá bằng tăng trưởng, mà còn bởi việc xác lập chủ quyền kinh tế, thống nhất không gian phát triển và xây dựng nền tảng ban đầu về công nghiệp, hạ tầng, giáo dục, y tế và quản lý nhà nước.

VnEconomy

Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu quá trình chuyển đổi sâu sắc về tư duy, thể chế và phương thức phát triển. Đại hội VI của Đảng mở đầu công cuộc Đổi mới, đánh dấu bước chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Quyền chủ động của người dân và doanh nghiệp được mở rộng; kinh tế tư nhân được khôi phục; đầu tư nước ngoài được thu hút; các nguồn lực từng bước được phân bổ theo tín hiệu thị trường. Đây là sự thay đổi căn bản về chủ thể và động lực phát triển.

Cùng với cải cách trong nước, Việt Nam chuyển từ nền kinh tế khép kín sang chủ động hội nhập. Việc bình thường hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, gia nhập ASEAN, WTO và tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã mở rộng thị trường, thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản trị, đồng thời thúc đẩy cải cách thể chế. Việt Nam, từ chỗ gần như đứng ngoài các dòng chảy thương mại, đã trở thành một mắt xích trong mạng lưới sản xuất khu vực và toàn cầu.

Đổi mới và hội nhập đồng thời thúc đẩy chuyển dịch từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bốn bước chuyển về cơ chế, hội nhập, cơ cấu và mục tiêu đã tạo dựng diện mạo mới cho kinh tế Việt Nam.

VnEconomy

Sau 81 năm độc lập và 40 năm Đổi mới, diện mạo kinh tế Việt Nam đã thay đổi căn bản. Trước hết, quy mô và năng lực của nền kinh tế được nâng lên rõ rệt. Năm 2025, GDP theo giá hiện hành đạt khoảng 12,85 triệu tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới và thứ tư trong ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD. Tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8,02%, còn bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 6,2%/năm. GNI bình quân đầu người đạt khoảng 4.750 USD, vượt ngưỡng thu nhập trung bình cao.

Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Năm 2025, nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 11,64% GDP; công nghiệp và xây dựng chiếm 37,65%; dịch vụ chiếm 42,75%. Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,97% và đóng góp 31,49% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số đạt khoảng 14,02% GDP, phản ánh vai trò ngày càng rõ của dữ liệu, nền tảng số và các mô hình kinh doanh mới.

Độ mở và vị trí của Việt Nam trong mạng lưới sản xuất toàn cầu cũng được nâng cao. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2025 vượt 930 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới về thương mại. Hàng hóa Việt Nam hiện diện tại hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ; xuất khẩu nông sản đứng thứ 15 thế giới và thứ hai Đông Nam Á. Việt Nam đồng thời trở thành địa điểm sản xuất quan trọng trong các chuỗi cung ứng điện tử, dệt may, da giày và nông sản.

Các chủ thể kinh tế phát triển ngày càng đa dạng. Hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng hơn 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách và thu hút, sử dụng khoảng 85% lực lượng lao động. Tổng vốn FDI đăng ký giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 185 tỷ USD, cao hơn giai đoạn 2016-2020. Một số doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài và bước đầu tham gia các công đoạn có giá trị cao hơn.

Tăng trưởng kinh tế đồng thời gắn ngày càng chặt với tiến bộ xã hội. Giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ nghèo đa chiều giảm bình quân khoảng một điểm phần trăm mỗi năm; tuổi thọ trung bình đạt 74,8 tuổi, chỉ số phát triển con người đạt 0,766 và tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,2%. Sự thay đổi của kinh tế Việt Nam vì thế không chỉ nằm ở quy mô GDP mà còn thể hiện trong chất lượng sống, năng lực con người và vị thế quốc gia.

Bối cảnh kinh tế hiện nay cho thấy triển vọng đến năm 2030, vị thế kinh tế của Việt Nam có thể nâng lên đáng kể. Nếu duy trì tốc độ tăng trưởng thực khoảng 7-8%/năm, đồng thời giữ ổn định kinh tế vĩ mô và tỷ giá, quy mô GDP danh nghĩa của Việt Nam có thể đạt khoảng 750-850 tỷ USD vào năm 2030. Với quy mô này, Việt Nam có khả năng vươn lên nhóm ba nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á, khoảng nhóm 12-15 nền kinh tế lớn nhất châu Á và nhóm 25-30 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Trong kịch bản thực hiện được mục tiêu tăng trưởng bình quân từ 10%/năm trong giai đoạn 2026-2030, GDP có thể tiến gần hoặc vượt ngưỡng 900 tỷ USD, qua đó mở ra khả năng cạnh tranh vị trí thứ hai trong ASEAN và tiến gần nhóm 25 nền kinh tế lớn nhất thế giới.

VnEconomy

Thành tựu của bốn thập niên Đổi mới là không thể phủ nhận, nhưng mô hình phát triển hiện nay đang dần bộc lộ giới hạn. Cụ thể:

Thứ nhất, hạn chế của chất lượng tăng trưởng. Giai đoạn 2021-2025, tổng vốn đầu tư toàn xã hội duy trì ở mức 32-33% GDP, trong khi hệ số ICOR khoảng 6,4. Năng suất lao động tăng bình quân 5,2%/năm, thấp hơn mục tiêu 6,5%; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp đạt khoảng 47%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2025 mới đạt 29,2%. Điều đó cho thấy dư địa tăng trưởng theo chiều rộng đang thu hẹp, trong khi động lực từ tri thức và công nghệ chưa đủ mạnh.

Thứ hai, năng lực tự chủ chưa tương xứng với quy mô và độ mở. Nhiều ngành xuất khẩu chủ lực vẫn phụ thuộc vào khu vực FDI, nguyên liệu, linh kiện, thiết bị và công nghệ nhập khẩu. Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ chỉ chiếm khoảng 4,5% số doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo; phần lớn có quy mô nhỏ và năng lực hạn chế. Liên kết giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp FDI chưa sâu, khiến hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, năng suất và kỹ năng chưa đạt kỳ vọng; giá trị gia tăng giữ lại trong nước ở nhiều chuỗi sản xuất còn thấp.

Thứ ba, chất lượng thể chế và hiệu quả phân bổ nguồn lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển ở trình độ cao. Một số quy định còn chồng chéo, thiếu ổn định hoặc được thực thi chưa thống nhất; đất đai, vốn, đầu tư công và nhân lực chưa phải lúc nào cũng được chuyển đến nơi sử dụng hiệu quả nhất. Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2025 cho rằng Việt Nam cần một “cú hích thể chế”, tập trung vào đầu tư công thông minh hơn, quy định rõ ràng và có thể dự báo, nền công vụ có trách nhiệm giải trình và quản trị địa phương hiệu quả hơn.

Thứ tư, khả năng chống chịu trước sức ép từ già hóa dân số, biến đổi khí hậu, phân mảnh địa kinh tế và cạnh tranh công nghệ. Khoảng ba phần tư doanh nghiệp may mặc và điện tử trong khảo sát năm 2024 hoạt động tại khu vực chịu căng thẳng nhiệt đáng kể, ảnh hưởng tới hơn 1,3 triệu lao động. Nếu thiếu biện pháp thích ứng, tác động khí hậu có thể khiến sản lượng kinh tế năm 2050 thấp hơn tới 12,5% so với kịch bản cơ sở (WB, 2025). Việt Nam vì thế không thể chỉ kéo dài mô hình tăng trưởng cũ.

VnEconomy

Bước vào kỷ nguyên mới, khát vọng của Việt Nam không chỉ là duy trì tăng trưởng cao, mà là tạo ra bước phát triển về chất, hướng tới nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Mô hình mới cần mang sáu đặc trưng: nhanh hơn, bền vững hơn, tự chủ hơn, số hóa hơn, xanh hơn và bao trùm hơn; kết hợp hài hòa giữa Nhà nước kiến tạo, thị trường hiệu quả và xã hội năng động, giữa phát huy nội lực với tận dụng ngoại lực. Cụ thể:

Một là, Việt Nam phải chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động giá thấp và tài nguyên sang tăng trưởng dựa trên năng suất, tri thức và đổi mới sáng tạo. Khoa học, công nghệ cần trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, doanh nghiệp là trung tâm ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu; thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung cốt lõi.

Hai là, chuyển đổi số phải trở thành phương thức tái cấu trúc nền kinh tế, không chỉ là số hóa quy trình hiện có. Việt Nam cần phát triển hạ tầng số, dữ liệu quốc gia, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, bán dẫn và nền tảng số dùng chung; đồng thời bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu và chủ quyền số. Mục tiêu là giảm chi phí giao dịch, nâng cao hiệu quả quản trị và tạo không gian cho doanh nghiệp Việt Nam hình thành sản phẩm, nền tảng và mô hình kinh doanh mới.

Ba là, mô hình mới cũng phải bảo đảm độc lập, tự chủ nhưng không khép kín. Nội lực giữ vai trò quyết định, ngoại lực bổ sung vốn, công nghệ, tri thức và thị trường. Nghị quyết số 59-NQ/TW xác định hội nhập quốc tế là động lực chiến lược, gắn gia tăng nội lực với tranh thủ ngoại lực và bảo vệ lợi ích quốc gia. Chính sách FDI cần chuyển từ ưu tiên số lượng vốn sang chất lượng dự án, trình độ công nghệ, mức độ liên kết và khả năng lan tỏa; đồng thời, phát triển công nghiệp hỗ trợ, năng lực cung ứng trong nước và doanh nghiệp có khả năng làm chủ chuỗi giá trị.

Bốn là, kinh tế tư nhân cần thực sự trở thành một trong những động lực quan trọng nhất. Nhà nước phải bảo đảm quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng và khả năng tiếp cận công bằng các nguồn lực. Chính sách hỗ trợ cần chuyển từ ưu đãi dàn trải sang nâng cao năng lực công nghệ, quản trị và kết nối thị trường. Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng hai triệu doanh nghiệp, khu vực tư nhân đóng góp 55-58% GDP và hình thành thêm nhiều doanh nghiệp đủ sức tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Năm là, tăng trưởng trong kỷ nguyên mới đồng thời phải xanh và có khả năng chống chịu cao. Việt Nam cần thúc đẩy năng lượng sạch, giao thông xanh, sản xuất ít phát thải, tiêu dùng bền vững và kinh tế tuần hoàn; coi mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050 vừa là trách nhiệm quốc tế, vừa là động lực đổi mới công nghệ. Quản trị phát triển phải tích hợp khả năng dự báo và ứng phó với thiên tai, dịch bệnh, biến động tài chính, đứt gãy chuỗi cung ứng và các cú sốc địa chính trị.

Sáu là, để những định hướng trên trở thành hiện thực, ba đột phá về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực phải được nâng lên trình độ mới. Thể chế cần minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo và cho phép thử nghiệm mô hình mới; hạ tầng phải đồng bộ giữa giao thông, logistics, năng lượng và hạ tầng số; giáo dục, đào tạo phải gắn với nhu cầu kỹ năng của nền kinh tế tương lai. Pháp luật phải vừa bảo đảm quản lý, vừa khuyến khích sáng tạo và giải phóng nguồn lực, phù hợp tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW. Mọi thành quả phát triển cuối cùng phải hướng đến con người, thu hẹp khoảng cách vùng miền và bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau.

VnEconomy

Nhìn lại 81 năm kể từ Quốc khánh 2/9/1945, kinh tế Việt Nam đã đi từ một nền kinh tế thuộc địa nghèo nàn, bị chiến tranh tàn phá, tới thống nhất, Đổi mới, mở cửa và hội nhập sâu rộng. Thành tựu không chỉ thể hiện ở quy mô GDP, thu nhập hay kim ngạch thương mại, mà quan trọng hơn là Việt Nam đã xác lập quyền tự quyết, từng bước hoàn thiện mô hình phát triển và tạo dựng cơ đồ, tiềm lực, vị thế mới.

Tuy nhiên, những động lực từng tạo nên thành công đang dần chạm tới giới hạn. Việt Nam phải chuyển từ dựa nhiều vào vốn, lao động và tài nguyên sang phát triển bằng năng suất, tri thức, công nghệ và sức sáng tạo; từ tham gia sang vươn lên làm chủ chuỗi giá trị; từ tăng trưởng nhanh sang phát triển nhanh, bền vững, tự chủ và bao trùm. Nếu Đổi mới năm 1986 đã giúp đất nước thoát khỏi khủng hoảng, mở cửa và hội nhập, thì cuộc Đổi mới trong kỷ nguyên mới phải đưa Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình và tiến tới thịnh vượng.

Tiếp nối tinh thần Quốc khánh hôm nay chính là củng cố độc lập chính trị bằng năng lực tự chủ kinh tế, làm chủ công nghệ, sức mạnh của doanh nghiệp Việt Nam và khát vọng sáng tạo của mỗi người dân.

VnEconomy

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 35+36-2026 phát hành ngày 31/08/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link:  https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-3536-2026.html

VnEconomy

Một phần tư thế kỷ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Nhiều quốc gia trên thế giới đã coi trọng việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa từ cách đây gần 80 năm, còn Việt Nam mới chỉ bắt đầu công cuộc này cách đây một phần tư thế kỷ. Vì vậy, vẫn còn rất nhiều việc cần làm để phát huy tối đa vai trò của khu vực này, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của đất nước.

Từ tăng trưởng đến thịnh vượng, hạnh phúc

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phát triển kinh tế chưa bao giờ là mục tiêu tự thân. Đằng sau tăng trưởng, sản xuất và tích lũy của cải là một yêu cầu nhất quán: làm cho nhân dân có cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc; đồng thời, tạo nền tảng để dân tộc vươn lên độc lập, tự cường, phồn vinh. Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm và khơi dậy khát vọng dân tộc tiếp tục gợi mở một hệ quy chiếu quan trọng cho lựa chọn mô hình phát triển.

Du lịch chăm sóc sức khỏe ngành công nghiệp nghìn tỷ USD

Thị trường du lịch chăm sóc sức khỏe trên toàn cầu đang mở rộng nhanh chóng khi nhu cầu tìm kiếm những trải nghiệm giúp kiểm soát sự căng thẳng, cải thiện sức khỏe tổng thể và thúc đẩy lối sống lành mạnh tăng cao. Ngày càng nhiều du khách mong muốn khám phá những khu nghỉ dưỡng chăm sóc sức khỏe độc ​​đáo và sẵn sàng chi trả tương xứng. Hơn thế nữa, sự ra đời của các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI), học máy (Machine Learning) và Internet vạn vật (IoT) đã tạo ra những tiến bộ lớn trong du lịch chăm sóc sức khỏe.

Ngành cơ khí: Xương sống của nền công nghiệp hiện đại

Các dịch vụ và công nghệ kỹ thuật cơ khí cho phép doanh nghiệp tích hợp vào quy trình vận hành những hệ thống tiết kiệm năng lượng, chiến lược bảo trì dự đoán và năng lực sản xuất thông minh. Khi các doanh nghiệp tìm kiếm cơ sở hạ tầng có khả năng mở rộng và sẵn sàng cho tương lai, ngành cơ khí ngày càng mang lại giá trị thiết thực.

Các thành phố lớn tại Việt Nam đang đối mặt với tình trạng “đô thị nén”, mật độ xây dựng cao, thiếu không gian mở và cây xanh. Điều này làm suy giảm khả năng thông gió tự nhiên, gia tăng hiện tượng đảo nhiệt đô thị và khiến con người ngày càng phụ thuộc vào hệ thống điều hòa…

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy