Nghị định 33/2023/NĐ-CP của Chính phủ quy định
về các chức danh của người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố
không quá 3 chức danh, bao gồm: Bí thư chi bộ; trưởng thôn hoặc tổ trưởng tổ dân
phố; trưởng ban công tác mặt trận. Các chức danh này được hưởng mức phụ cấp hàng
tháng.
Nghị định số 33 cũng quy định thực
hiện khoán quỹ phụ cấp đối với những người hoạt động không chuyên trách ở thôn,
tổ dân phố. Ngân sách Trung ương khoán quỹ phụ cấp để chi trả hàng tháng đối với
người hoạt động không chuyên trách ở mỗi thôn, tổ dân phố.
Trong đó, đối với thôn có từ 350 hộ gia
đình trở lên; tổ dân phố có từ 500 hộ gia đình trở lên; thôn, tổ dân phố thuộc
đơn vị hành chính cấp xã trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự theo quyết định
của cơ quan có thẩm quyền; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã ở
khu vực biên giới, hải đảo,
được khoán quỹ phụ cấp bằng 6 lần mức lương cơ sở.
Trường hợp thôn có từ 350 hộ gia
đình trở lên chuyển thành tổ dân phố do thành lập đơn vị hành chính đô thị cấp
xã, thì được giữ mức khoán quỹ phụ cấp bằng 6 lần mức lương cơ sở.
Đối với các thôn, tổ dân phố
không thuộc nhóm trên được khoán quỹ phụ cấp bằng 4,5 lần mức lương
cơ sở.
Hiện nay, mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng/tháng.
Với mức tăng dự kiến 8% từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở sẽ tăng lên 2.527.200 đồng/tháng.
Như vậy, nếu mức tăng lương cơ sở 8% được thông
qua, từ ngày 1/7/2026, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố tại thôn có từ
350 hộ gia đình trở lên; tổ dân phố có từ 500 hộ gia đình trở lên; thôn, tổ dân
phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự
theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành
chính cấp xã ở khu vực biên giới, hải đảo được khoán quỹ phụ cấp bằng 6 lần mức
lương cơ sở, tương đương 6 x 2.527.200
đồng/tháng = 15.163.200 đồng/tháng.
Trường hợp thôn có từ 350 hộ gia
đình trở lên chuyển thành tổ dân phố do thành lập đơn vị hành chính đô thị cấp
xã thì được giữ mức khoán quỹ phụ cấp bằng 6 lần mức lương cơ sở, cũng tương đương 15.163.200 đồng/tháng.
Trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố
tại thôn, tổ dân phố còn lại thì mức khoán quỹ bằng 4,5 lần mức lương cơ sở, tương đương 4,5 x 2.527.200 đồng/tháng = 11.372.400 đồng/tháng.
Căn cứ theo quy định tại Nghị định số 33, mức
phụ cấp hàng tháng của trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố bảo đảm tương quan hợp lý với mức
lương bậc 1 của công chức cấp xã có cùng trình độ đào tạo, do Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định. Mức hỗ trợ này cũng phù hợp với tình hình thực
tiễn của địa phương.
Trường hợp trưởng thôn, tổ trưởng tổ
dân phố kiêm nhiệm thực hiện nhiệm vụ của người hoạt động không chuyên trách
khác ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, thì được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm bằng 100%
mức phụ cấp quy định của chức danh kiêm nhiệm.
Do đó, phụ cấp hàng tháng của trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố sẽ do Hội đồng nhân dân tỉnh quy định, dựa trên mức khoán quỹ hàng
tháng, trình độ và có kiêm nhiệm thêm chức danh không chuyên trách nào nữa hay
không, không có mức áp dụng thống nhất chung giữa các địa phương.