Nếu tín dụng tiếp tục tăng cao trong khi huy động vốn chỉ duy trì mức tăng 14–15% như năm 2025, khoảng cách giữa tín dụng – huy động sẽ tiếp tục nới rộng. Điều này sẽ tạo áp lực kép lên thanh khoản và mặt bằng lãi suất.
Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) vừa cập nhật tổng quan tình hình kinh tế, tài chính, tiền tệ 2025 và triển vọng 2026.
Theo đó, trong năm 2025, chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn duy trì quanh ngưỡng trên dưới 4%, đã tạo ra áp lực thanh khoản đáng kể đối với hệ thống ngân hàng, làm giảm khả năng cung ứng vốn cho tăng trưởng trong giai đoạn tiếp theo.
Để bù đắp thiếu hụt nguồn vốn, các ngân hàng buộc phải điều chỉnh tăng lãi suất huy động. Kể từ tháng 10/2025, xu hướng tăng lãi suất ngày càng rõ nét, với nhiều kỳ hạn tiền gửi vượt mốc 7,2%/năm. Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng bình quân đã tăng đáng kể so với mức 4,8%/năm ghi nhận trong tháng 9/2025.
VNBA dự báo áp lực thanh khoản sẽ tiếp tục kéo dài sang những tháng đầu năm 2026, khi nhu cầu tín dụng gia tăng theo chu kỳ cuối năm và đầu năm mới.
Các chỉ báo thanh khoản cho thấy mức độ căng thẳng ngày càng rõ rệt. Hệ số LDR (cho vay/huy động) toàn ngành đã lên tới 111% vào cuối quý III/2025, mức cao nhất trong nhiều năm, cho thấy các ngân hàng đang cho vay vượt quá lượng vốn huy động được, làm gia tăng đáng kể rủi ro thanh khoản.
Đồng thời, tỷ lệ CASA giảm xuống dưới 22%, cho thấy dòng tiền nhàn rỗi của khách hàng có xu hướng dịch chuyển sang các kênh đầu tư khác như vàng, ngoại tệ và tài sản số, qua đó làm gia tăng chi phí vốn.
Trong bối cảnh đó, VNBA đánh giá việc biên lãi thuần (NIM) thu hẹp là thách thức lớn của ngành ngân hàng trong năm 2026, khi nhu cầu vốn tăng theo chu kỳ, trong khi lãi suất đầu vào chưa có nhiều dư địa giảm.
NIM toàn ngành đã giảm liên tục từ 3,25% (quý I/2025) xuống 3,0% (quý III/2025), mức thấp nhất kể từ quý I/2025. Bình quân bốn quý gần nhất chỉ đạt 3,15%, thấp nhất kể từ năm 2018.
Nếu tín dụng tiếp tục tăng cao trong khi huy động vốn chỉ duy trì mức tăng 14–15% như năm 2025, khoảng cách giữa tín dụng – huy động sẽ tiếp tục nới rộng. Điều này sẽ tạo áp lực kép lên thanh khoản và mặt bằng lãi suất.
Nguyên nhân chính khiến NIM suy giảm gồm: (i) lợi suất tài sản giảm do nợ quá hạn hình thành ròng gia tăng; và (ii) chi phí vốn tăng lên khi mặt bằng lãi suất huy động điều chỉnh theo hướng đi lên.
Các ngân hàng có nền tảng bán lẻ mạnh như Sacombank, VPBank, OCB, MB và VIB đã ghi nhận sự cải thiện NIM, nhờ duy trì tăng trưởng tín dụng ổn định và tỷ trọng cho vay bán lẻ cao.
Ngược lại, nhóm ngân hàng quốc doanh (Vietcombank, VietinBank và BIDV) vẫn neo NIM ở vùng thấp 2%–2,6%, do phải ưu tiên duy trì mặt bằng lãi suất cho vay thấp trong khi chi phí huy động tăng nhanh.
Về tổng thể, chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng có cải thiện, nhưng vẫn tồn tại một số yếu tố cần được theo dõi chặt chẽ.
Tính đến cuối quý III/2025, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống giảm xuống còn 2,01%, nhờ vào hai yếu tố chính: (i) Tăng trưởng tín dụng nhanh giúp kéo giảm tỷ trọng nợ xấu, và (ii) Công tác xử lý nợ cải thiện hiệu quả. Tuy nhiên, tổng giá trị nợ xấu nội bảng vẫn tăng thêm 44 nghìn tỷ đồng, lên mức 274 nghìn tỷ đồng, cho thấy rủi ro tín dụng vẫn hiện hữu.
Nợ nhóm 2 tăng mạnh trong năm 2025 là dấu hiệu rủi ro sớm cho hệ thống tín dụng. Nếu không được kiểm soát tốt, một phần đáng kể có thể chuyển thành nợ xấu trong năm 2026, làm suy yếu chất lượng tài sản.
Về khả năng chống đỡ rủi ro, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) đã phục hồi từ mức đáy gần 80% (quý II/2025) lên 84% vào quý III, tuy nhiên vẫn thấp hơn so với cuối năm 2024 và có sự phân hóa rõ giữa các ngân hàng. Có 4 ngân hàng (Vietcombank, VietinBank, Techcombank, Bac A Bank) duy trì LLR trên 100%, trong đó Vietcombank dẫn đầu với tỷ lệ 201,9%, trong khi BIDV đã giảm xuống dưới ngưỡng 100%.
Đáng chú ý, theo VNBA, rủi ro nổi bật nhất hiện nay là sự gia tăng nhanh của nợ nhóm 2, gồm các khoản nợ quá hạn từ 90–180 ngày hoặc có dấu hiệu rủi ro mất vốn. Trong quý III/2025, nợ nhóm 2 tăng thêm hơn 50 nghìn tỷ đồng, đảo chiều hoàn toàn so với xu hướng giảm của quý trước.
Nguyên nhân chủ yếu bao gồm: (1) áp lực trả nợ gia tăng do mặt bằng lãi suất huy động tăng; (2) các khoản nợ từng được tái cơ cấu đáo hạn; (3) rủi ro nội tại từ các lĩnh vực như bất động sản, thương mại và xây dựng.
VNBA nhận định rằng nợ nhóm 2 là chỉ báo cảnh báo sớm, phản ánh rủi ro tín dụng đang tăng trở lại. Nếu không được xử lý kịp thời, một phần đáng kể trong số này có thể chuyển thành nợ xấu trong thời gian tới.
Một nghiên cứu của Fed chỉ ra rằng việc giá vàng tăng mạnh trong những năm gần đây chủ yếu được thúc đẩy bởi nhu cầu từ khu vực tư nhân, mà phần lớn dự trữ vàng chính thức lại nằm trong tay các quốc gia chưa từng mua thêm vàng trong hơn 50 năm qua...
Các thành viên trên thị trường liên ngân hàng vẫn đặt kỳ vọng cao vào tăng trưởng kinh tế và khả năng điều hành của Ngân hàng Nhà nước, nhưng thận trọng hơn với triển vọng chứng khoán và bất động sản. Sự phân hóa này xuất hiện ngay cả khi thanh khoản ngắn hạn của hệ thống ngân hàng đã bớt căng thẳng, cho thấy dòng tiền dồi dào hơn chưa đồng nghĩa với điều kiện vốn thuận lợi hơn, nhất là khi chi phí huy động vẫn cao và những bất định bên ngoài còn lớn..
Tính đến 13 giờ ngày 9/9, giá mua, bán vàng miếng SJC và vàng nhẫn “4 số 9” giảm phổ biến 1,2 triệu đồng/lượng. Quy đổi theo tỷ giá Vietcombank (đã bao gồm thuế, phí), chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới thu hẹp còn khoảng 5,21 triệu đồng/lượng, mức thấp nhất kể từ đầu tháng 9...
"Nếu đồng yên tiếp tục mạnh lên, quá trình giảm đòn bẩy từ từ có thể biến thành một đợt tháo chạy nhanh chóng và tự khuếch đại", một. chiến lược gia nhận định....
Hơn một triệu thẻ tín dụng, top 3 toàn thị trường về chi tiêu và quy mô giao dịch vượt 5 tỷ USD tiếp tục khẳng định vị thế top đầu của VIB trên thị trường thẻ Việt Nam.
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập bình quân ngay trong tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%.