Báo cáo Đánh giá kinh tế Việt Nam thường niên 2025 của Đại học Kinh tế Quốc dân với chủ đề “Thúc đẩy phát triển kinh tế số trong kỷ nguyên mới” vừa được công bố mới đây tiếp tục đưa ra cảnh báo về sự lỗi thời của mô hình tăng trưởng truyền thống khi đối mặt với những “cơn gió ngược” từ địa chính trị toàn cầu và sự hụt hơi của động lực nội tại.
Một trong những điểm trọng tâm được báo cáo nhấn mạnh là sự thay đổi trong cấu trúc dòng vốn đầu tư. Năm 2025, đầu tư tăng trưởng tới 12%, đưa tỷ trọng đầu tư xã hội trên GDP lên mức 32,31%. Trong đó, đầu tư của khu vực nhà nước chiếm gần 30% tổng đầu tư xã hội. Trong khi đó, khu vực tư nhân trong nước, vốn được kỳ vọng là động lực dài hạn – lại đang gặp nhiều rào cản và có xu hướng suy giảm tỷ trọng.
Theo GS.TS. Tô Trung Thành, đại diện nhóm nghiên cứu báo cáo của Đại học Kinh tế Quốc dân, sự hiện diện mạnh mẽ của các dự án nhà nước là nền tảng quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng nhưng cũng đặt ra yêu cầu về việc phối hợp nhịp nhàng để không gây áp lực lên nguồn lực của khu vực tư nhân.
Đầu tư công là điều kiện cần để tạo hạ tầng, nhưng cần chuyển dịch dần sang cơ chế “vốn mồi” để khơi thông sự năng động của doanh nghiệp tư nhân. Việc thiết lập hành lang pháp lý minh bạch và giảm chi phí tuân thủ sẽ giúp khu vực tư nhân tự tin hơn trong việc chuyển đổi từ trạng thái “phòng thủ” sang đầu tư dài hạn vào sản xuất và công nghệ.
Đây chính là chìa khóa để giảm bớt sự phụ thuộc quá lớn vào kênh tín dụng ngân hàng – đang ở mức tăng trưởng gần 19%. Nếu nhìn sâu hơn, tỷ trọng vốn cung cấp qua kênh tín dụng hiện đã đạt mức 50%, phản ánh một vấn đề sâu xa là thị trường vốn của chúng ta chưa phát triển đầy đủ. Doanh nghiệp thiếu các lựa chọn dòng vốn dài hạn, dẫn đến những rủi ro về mất cân đối kỳ hạn, nợ xấu và áp lực vĩ mô lên lạm phát, tỷ giá.
Bổ sung thêm, ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia Kinh tế trưởng của ADB tại Việt Nam, cho rằng không chỉ là những vấn đề nội tại của nền kinh tế, việc phải đối mặt với những cú sốc thuế quan mới và tình trạng bất định cao trong thương mại toàn cầu từ sự gián đoạn chuỗi cung ứng tại eo biển Hormuz càng khiến niềm tin của nhà đầu tư tư nhân suy giảm.
Hệ quả là đầu tư tư nhân không chỉ giảm về quy mô mà còn giảm về chất lượng. Các dòng vốn tư nhân thay vì đổ vào sản xuất, công nghệ, lại có xu hướng chảy vào các kênh tài sản an toàn hoặc đầu cơ ngắn hạn để đối phó với rủi ro vĩ mô. Sự lệch pha này nếu kéo dài sẽ làm suy yếu sức cạnh tranh quốc gia ngay từ bên trong.
Dù duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhưng theo nghiên cứu của Đại học Kinh tế Quốc dân, chất lượng tăng trưởng dựa trên Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) không có cải thiện. Theo ghi nhận của báo cáo, năm 2025, đóng góp của TFP đã chuyển sang mức âm. Điều này phản ánh thực tế là hiệu quả từ công nghệ, quản trị và phân bổ nguồn lực không những không tăng mà còn suy giảm; đồng thời cho thấy nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng chủ yếu dựa vào việc “đổ thêm” vốn và lao động giá rẻ thay vì nâng cao năng suất thực tế.
Chỉ số TFP vẫn âm bất chấp những nỗ lực trong việc chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và cách mạng công nghiệp 4.0. Tại sao AI và kinh tế số lại chưa thể cứu vãn được năng suất? Theo các chuyên gia, nguyên nhân là bởi phần lớn hoạt động chuyển đổi số hiện nay mới chỉ dừng lại ở mức “số hóa bề mặt”, chưa thực sự thẩm thấu vào quy trình vận hành sâu của doanh nghiệp.
Theo ghi nhận của báo cáo, đóng góp của vốn ICT vào tăng trưởng của Việt Nam còn rất hạn chế so với khu vực. Dù chúng ta đứng ở vị trí 44 trên bảng xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo (GII) nhưng vẫn gặp các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực.
“Tăng trưởng hiện nay của Việt Nam đang thiếu vắng các động lực chiều sâu. Nếu không thay đổi mô hình này, những thành quả hôm nay có thể trở thành rủi ro cho ngày mai”, GS.TS. Tô Trung Thành khuyến nghị.
Theo báo cáo của Đại học Kinh tế Quốc dân, dù kinh tế số được xem là động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng cho giai đoạn tới nhưng cần nhìn nhận rằng kinh tế số không chỉ là quá trình “số hóa” các hoạt động kinh tế, mà phải là quá trình tổ chức lại toàn bộ nền kinh tế trong kỷ nguyên số, từ sản xuất, phân phối đến tiêu dùng.
Do vậy, dù quy mô kinh tế số hiện nay đạt khoảng 70 tỷ USD, chiếm 14,02% GDP với tốc độ tăng trưởng hàng năm duy trì ở mức 10%, song động lực này đang có những bất cập.
Thứ nhất, kinh tế số lõi (bao gồm sản xuất và dịch vụ ICT) đang chiếm tới 60% tổng giá trị kinh tế số. Điều này cho thấy kinh tế số của chúng ta chủ yếu vẫn dựa vào việc mở rộng các ngành trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ công nghệ, trong khi quá trình số hóa lan tỏa đến các ngành kinh tế khác còn hạn chế (40%).
Thứ hai, kinh tế số đang phát triển theo các cực sản xuất công nghệ cao gắn với khối FDI tại Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên; hoặc tập trung tại các trung tâm dịch vụ và đổi mới sáng tạo như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Ở cấp độ ngành, ngoại trừ ICT và công nghiệp chế biến chế tạo, các ngành còn lại như nông nghiệp, xây dựng, thậm chí là tài chính - bảo hiểm vẫn có mức độ số hóa khá thấp (dưới 10%).
Thứ ba, tỷ lệ chi phí trung gian của khu vực kinh tế số lõi hiện chiếm tới 70-80% giá trị sản xuất (cao hơn nhiều mức trung bình 60-65% của nền kinh tế). Do đó, tỷ lệ giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất chỉ đạt khoảng 20-25%, thấp hơn đáng kể so với mức chung toàn nền kinh tế.
“Chúng ta đang tạo ra nhiều sản phẩm hơn, nhưng phần giá trị gia tăng thực sự giữ lại trong nước lại không tương xứng. Nguyên nhân chính là do Việt Nam vẫn đang ở phân khúc thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu như lắp ráp, gia công, thay vì làm chủ công nghệ lõi hay thiết kế”, GS.TS. Tô Trung Thành chỉ rõ.
Những bất cập này phản ánh việc Việt Nam đang thiếu hụt nhân lực “kỹ năng số lõi” để vận hành kinh tế số bên cạnh hạn chế về thể chế, hạ tầng… Cụ thể hơn, chuyên gia của ADB cũng chỉ ra sự thiếu hụt nhân lực kỹ năng số lõi để vận hành các hệ thống AI phức tạp. Do vậy, nếu chỉ cải cách thể chế và hạ tầng dữ liệu đồng bộ thì nền kinh tế chỉ gia tăng chi phí mà không tạo ra giá trị gia tăng và chưa cải thiện hiệu quả thực chất.
Trước thực trạng đầu tư tư nhân suy giảm và năng suất đình trệ, việc đổi mới mô hình tăng trưởng là vấn đề cấp bách hiện nay của Việt Nam, nhất là trong bối cảnh đặt mục tiêu tăng trưởng trên 10% giai đoạn 2026-2030. Vì vậy, Việt Nam cần một cuộc cách mạng với trọng tâm là “tái cấu trúc nền kinh tế số”.
Báo cáo của Đại học Kinh tế Quốc dân nêu ba khuyến nghị.
Thứ nhất, phải thay đổi cách tiếp cận về đầu tư công. Thay vì đầu tư dàn trải, cần chuyển sang cơ chế “vốn mồi” để dẫn dắt đầu tư tư nhân. Nhà nước chỉ nên tập trung vào các dự án hạ tầng chiến lược, công nghệ lõi và các lĩnh vực mà tư nhân không muốn hoặc không thể làm. Đồng thời, cần thiết lập một hành lang pháp lý minh bạch để bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp, giảm chi phí tuân thủ, từ đó “giải phóng” nguồn vốn tư nhân đang bị nghẽn lại.
Thứ hai, để cải thiện chỉ số TFP, phải chuyển trọng tâm từ “số hóa” sang “tái cấu trúc dựa trên dữ liệu”. Điều này đòi hỏi việc xây dựng một hệ sinh thái dữ liệu quốc gia thống nhất, minh bạch và có khả năng chia sẻ. Chỉ khi dữ liệu được coi là một nguồn lực sản xuất mới, được lưu thông thông suốt giữa các bộ, ngành và doanh nghiệp, thì các công nghệ như AI mới có cơ hội để tối ưu hóa nền kinh tế...
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 17-2026 phát hành ngày 04/05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-17-2026.html
Lãi suất, lạm phát, suy thoái, thất nghiệp, khủng hoảng năng lượng… là những vấn đề kinh tế vĩ mô luôn nằm ở tâm điểm chú ý của mọi người, từ nhà hoạch định chính sách đến từng hộ gia đình. Câu hỏi trung tâm mà các ngân hàng trung ương và chính phủ các nước cần phải trả lời mỗi khi cú sốc ập đến, đó là: nên tăng hay giảm lãi suất? Nên bơm thêm hay thắt chặt chi tiêu? Người dân và doanh nghiệp sẽ phản ứng ra sao? Giải Nobel Kinh tế 2026 đã vinh danh hai nhà kinh tế học người Mỹ - Robert E. Hall và Michael Woodford. Họ là những người đã đặt nền móng vi mô cho các mô hình mà ngày nay các ngân hàng trung ương khắp thế giới đang sử dụng để trả lời chính cho những câu hỏi trên...
Diễn ra từ ngày 21–23/10/2026 tại Frankfurt (Đức), Routes World 2026 là diễn đàn hàng đầu thế giới về phát triển mạng đường bay, dự kiến quy tụ hơn 230 hãng hàng không và đại diện từ hơn 110 quốc gia.
Ngày 20/10 tại Copenhagen, Vietnam Airlines ký biên bản ghi nhớ với Copenhagen Airport, Scandinavian Airlines Systems (SAS) và Danish Industry (DI), tập trung vào phát triển đường bay, mở rộng hợp tác hàng không và kết nối với cộng đồng doanh nghiệp Đan Mạch...
Hateco và APM Terminals ký biên bản ghi nhớ hợp tác nghiên cứu đầu tư, phát triển và vận hành mạng lưới ga hàng hóa đường sắt tại Việt Nam, với tổng mức đầu tư sơ bộ dự kiến khoảng 3,5 tỷ USD...
Diễn đàn Đổi mới sáng tạo vì mọi người 2026 – Ninh Binh Innovation for All Forum (NB-IAF 2026) đã đặt cơ sở cho cơ chế hợp tác thường xuyên giữa tổ chức của người khuyết tật, cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu và các công ty công nghệ...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Với mục tiêu hoàn thành trong tháng 11 hoặc chậm nhất vào cuối tháng 12/2026, các nhà thầu thi công tuyến đường gần 1.500 tỷ đồng tại Thanh Hóa đang tăng cường nhân lực, máy móc, tổ chức nhiều mũi thi công đồng thời để đẩy nhanh tiến độ dự án.