Đối tượng mua cổ phần với giá ưu
đãi, bao gồm: Người lao động làm việc theo hợp đồng
lao động, và người quản
lý doanh nghiệp của doanh nghiệp cổ phần hóa tại thời điểm xác định giá trị
doanh nghiệp cổ phần hóa.
Người lao động của doanh nghiệp cổ
phần hóa tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa, đã được cử xuống làm đại diện
phần vốn tại các doanh nghiệp khác chưa được hưởng chính sách mua cổ phần ưu
đãi tại các doanh nghiệp khác.
Người lao động làm việc theo hợp
đồng lao động và người quản lý doanh nghiệp của doanh nghiệp cấp II (chưa được
hưởng chính sách mua cổ phần ưu đãi tại các doanh nghiệp khác) tại thời điểm
xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa của doanh nghiệp cấp I.
Các đối tượng trên được mua tối
đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế làm việc tại khu vực nhà nước, với giá bán bằng 60% giá trị
1 cổ phần tính theo mệnh giá (10.000 đồng/cổ phần).
Đối với người lao động đại diện
cho hộ gia đình nhận khoán (mỗi hộ gia đình nhận khoán cử một người lao động đại
diện) tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa có hợp đồng nhận
khoán ổn định lâu dài với công ty nông, lâm nghiệp khi chuyển sang công ty cổ
phần, được mua tối đa
100 cổ phần cho mỗi năm thực tế đã nhận khoán với công ty, với giá bán bằng 60% giá trị 1 cổ phần
tính theo mệnh giá (10.000 đồng/cổ phần).
Khoản chênh lệch giữa giá bán cho
người lao động so với mệnh giá cổ phần theo quy định, được trừ vào giá trị phần vốn nhà nước
khi quyết toán tại thời điểm doanh nghiệp chính thức chuyển thành công ty cổ phần.
Số cổ phần bán với giá ưu đãi
theo quy định, người lao động phải nắm giữ và không được chuyển nhượng trong
vòng 3 năm kể từ thời điểm nộp tiền mua cổ phần ưu đãi.
Tổng giá trị của số cổ phần bán với
giá ưu đãi cho người lao động tính theo mệnh giá tối đa không vượt quá giá trị
phần vốn chủ sở hữu theo sổ sách kế toán tại thời điểm xác định giá trị doanh
nghiệp.
Nghị định cũng nêu rõ, người lao động
làm việc theo hợp đồng lao động và người quản lý doanh nghiệp của doanh nghiệp
cổ phần hóa tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa, thuộc đối
tượng doanh nghiệp cần sử dụng và có cam kết làm việc lâu dài cho doanh nghiệp
trong thời hạn ít nhất là 3 năm (kể từ ngày doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp lần đầu) sẽ được mua thêm cổ phần.
Cụ thể, mua thêm theo mức 200 cổ phần/1
năm cam kết làm việc tiếp trong doanh nghiệp, nhưng tối đa không quá 2.000 cổ phần cho một người lao động.
Riêng người lao động là các
chuyên gia giỏi, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao được mua thêm theo mức
500 cổ phần/1 năm cam kết làm việc tiếp trong doanh nghiệp, nhưng tối đa không quá 5.000 cổ phần
cho một người lao động.
Doanh nghiệp cổ phần hóa căn cứ đặc
thù ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của mình xây dựng và quyết định các tiêu
chí để xác định chuyên gia giỏi, có trình độ nghiệp vụ cao và phải được nhất
trí thông qua tại Hội nghị người lao động của doanh nghiệp trước khi cổ phần
hóa.
Giá bán cổ phần cho người lao động
mua thêm là giá khởi điểm được cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt trong
phương án cổ phần hóa.
Số cổ phần người lao động mua
thêm được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông sau khi kết thúc thời gian cam kết.
Trường hợp công ty cổ phần thực
hiện thay đổi cơ cấu, công nghệ, di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất, kinh
doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dẫn tới người lao động phải chấm dứt hợp
đồng lao động, thôi việc, mất việc trước thời hạn đã cam kết, thì số cổ phần đã được mua thêm sẽ được
chuyển đổi thành cổ phần phổ thông.
Trường hợp người lao động có nhu
cầu bán lại cho doanh nghiệp số cổ phần này, thì công ty cổ phần có trách nhiệm mua lại với giá sát với giá
giao dịch trên thị trường.
Trường hợp người lao động chấm dứt
hợp đồng lao động trước thời hạn đã cam kết, thì phải bán lại cho công ty cổ phần toàn bộ số cổ phần đã được
mua thêm với giá sát với giá giao dịch trên thị trường, nhưng không vượt quá giá đã được mua tại
thời điểm cổ phần hóa;
Số cổ phần người lao động được
mua thêm được xác định theo thời
gian cam kết tiếp tục làm việc, tối đa đến đủ tuổi nghỉ hưu đối với lao động
trong điều kiện lao động bình thường theo quy định tại Bộ luật Lao động hiện
hành.