Nhập khẩu nông lâm thủy sản 6 tháng đầu năm đạt gần 27 tỷ USD

Nhập khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, nhiều nhóm hàng nguyên liệu đầu vào như đậu tương, lúa mì, ngô và hạt điều ghi nhận mức tăng trưởng mạnh, phản ánh nhu cầu phục vụ sản xuất, chế biến và xuất khẩu tiếp tục duy trì ở mức cao...

Trong 6 tháng đầu năm 2026, khối lượng nhập khẩu hạt điều đạt 1,7 triệu tấn, trị giá 2,82 tỷ USD.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, khối lượng nhập khẩu hạt điều đạt 1,7 triệu tấn, trị giá 2,82 tỷ USD.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giá trị nhập khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam trong tháng 6/2026 ước đạt 4,68 tỷ USD, tăng 5,3% so với tháng trước và tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tổng giá trị nhập khẩu nông lâm thủy sản ước đạt 26,68 tỷ USD, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước.

CHÂU Á VÀ CHÂU MỸ LÀ HAI NGUỒN CUNG LỚN NHẤT

Trong cơ cấu nhập khẩu, nhóm nông sản đạt 17,08 tỷ USD, tăng 16,1%; sản phẩm chăn nuôi đạt 2,73 tỷ USD, tăng 26,9%; lâm sản đạt 1,84 tỷ USD, tăng 19,9%; thủy sản đạt 1,56 tỷ USD, giảm 1,1%; đầu vào sản xuất đạt 3,45 tỷ USD, giảm 11,5%; nhập khẩu muối đạt 20,1 triệu USD, tăng 8,7%.

Xét theo thị trường khu vực, Việt Nam nhập khẩu nông lâm thủy sản chủ yếu từ châu Á và châu Mỹ với thị phần lần lượt đạt 32,3% và 22,9%. Ba khu vực còn lại gồm châu Âu, châu Đại Dương và châu Phi chiếm thị phần lần lượt 3,8%, 3,4% và 2,9%.

So với cùng kỳ năm 2025, nhập khẩu từ châu Á tăng 17,7%; châu Mỹ tăng 5,4%; châu Đại Dương tăng 14%; trong khi nhập khẩu từ châu Âu giảm 10,2% và châu Phi giảm 15,3%.

Ở cấp độ thị trường theo từng quốc gia, Hoa Kỳ, Trung Quốc và Campuchia là ba nguồn cung lớn nhất của Việt Nam với thị phần lần lượt đạt 10,2%, 9,8% và 8,9%. So với cùng kỳ năm trước, nhập khẩu từ Hoa Kỳ tăng 23,5%, từ Trung Quốc tăng 17,6% và từ Campuchia tăng 30,6%.

Về sản phẩm, nhập khẩu đậu tương trong tháng 6 ước đạt 181,4 nghìn tấn, trị giá 91 triệu USD; lũy kế 6 tháng đạt 1,9 triệu tấn, trị giá 901 triệu USD, tăng 53,7% về khối lượng và tăng 61,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Brazil và Hoa Kỳ là hai thị trường cung cấp đậu tương lớn nhất, chiếm lần lượt 51,6% và 39,1% giá trị nhập khẩu. Giá trị nhập khẩu từ Brazil tăng 2,5 lần, Hoa Kỳ tăng 53,7%.

Đối với lúa mì, nhập khẩu tháng 6 đạt 392,4 nghìn tấn, trị giá 107 triệu USD; lũy kế 6 tháng đạt 4,8 triệu tấn, trị giá 1,23 tỷ USD, tăng 56,4% về khối lượng và tăng 51,6% về giá trị.

Nhập khẩu ngô tiếp tục tăng mạnh với khối lượng tháng 6 đạt 1,7 triệu tấn, trị giá 428,9 triệu USD; lũy kế 6 tháng đạt 6,9 triệu tấn, trị giá 1,75 tỷ USD, tăng 56,1% về khối lượng và tăng 51,8% về giá trị. Brazil và Argentina là hai nguồn cung ngô chủ lực với thị phần lần lượt 43,7% và 31,2%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu từ Brazil tăng 2,3 lần, trong khi từ Argentina giảm 19,4%.

NHẬP KHẨU HẠT ĐIỀU, CAO SU VÀ RAU QUẢ VẪN LỚN

Khối lượng hạt điều nhập khẩu trong tháng 6 ước đạt 228,3 nghìn tấn, trị giá 369,6 triệu USD; lũy kế 6 tháng đạt 1,7 triệu tấn, trị giá 2,82 tỷ USD, tăng 4,9% về khối lượng và tăng 13,1% về giá trị. Giá nhập khẩu bình quân đạt khoảng 1.679 USD/tấn, tăng 7,8%. Campuchia tiếp tục là nguồn cung lớn nhất với thị phần 66,2%. Các thị trường tiếp theo gồm Tanzania (10,8%), Bờ Biển Ngà (8,4%) và Nigiêria (3,2%). 

Đối với mặt hàng cao su, trong tháng 6 Việt Nam nhập khẩu 164,3 nghìn tấn, với trị giá 302,5 triệu USD; lũy kế 6 tháng đạt 868,2 nghìn tấn, trị giá 1,53 tỷ USD, tăng 3,7% về khối lượng và tăng 7,3% về giá trị. Campuchia, Trung Quốc và Hàn Quốc là ba thị trường cung cấp lớn nhất với thị phần lần lượt đạt 22,4%, 20,6% và 11,8%.

So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu cao su từ Campuchia giảm 20,9%, trong khi từ Trung Quốc và Hàn Quốc tăng lần lượt là 30,2% và 10,1%. Trong nhóm 15 thị trường lớn nhất, Canada ghi nhận mức tăng mạnh nhất với giá trị nhập khẩu tăng gấp 10 lần.

Trong tháng 6, giá trị nhập khẩu rau quả ước đạt 277,5 triệu USD; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 1,57 tỷ USD, tăng 30,9%. Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp rau quả lớn nhất với thị phần 38,9%, tiếp theo là Hoa Kỳ (25,2%) và Australia (7%). Giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc tăng 48,7%; Hoa Kỳ tăng 31,6%; Australia tăng 65,1%.

Đối với sản phẩm chăn nuôi, giá trị nhập khẩu tháng 6 đạt 479,3 triệu USD; lũy kế 6 tháng đạt 2,73 tỷ USD, tăng 26,9%. Trong đó, sữa và sản phẩm sữa đạt 797 triệu USD, tăng 9,6%; thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ đạt 1,12 tỷ USD, tăng 27,4%.

NHẬP KHẨU THUỶ SẢN GIẢM NHẸ, GỖ TĂNG

Trong tháng 6, giá trị nhập khẩu thủy sản trong tháng 6 ước đạt 278,2 triệu USD, đưa tổng giá trị 6 tháng lên 1,56 tỷ USD, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm trước.

Ba nguồn cung thuỷ sản lớn nhất cho Việt Nam là Ấn Độ (16%), Nauy (11,7%) và Inđônêxia (11%). Trong 5 tháng đầu năm, nhập khẩu từ Ấn Độ tăng 8,2%; Nauy tăng 5,7%; trong khi Inđônêxia giảm 29,7%. Trong nhóm 15 thị trường lớn nhất, Hoa Kỳ có tốc độ tăng mạnh nhất với 74,5%, còn Đài Loan giảm mạnh nhất với 38,7%.

Đối với gỗ và sản phẩm gỗ, giá trị nhập khẩu tháng 6 đạt 360,3 triệu USD. Lũy kế 6 tháng đạt 1,81 tỷ USD, tăng 20%. Trung Quốc là nguồn cung lớn nhất với thị phần 37,8%, tiếp theo là Hoa Kỳ (22,6%) và Thái Lan (3,5%). So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc tăng 6%, Hoa Kỳ tăng 82,5%, trong khi Thái Lan giảm 8,7%. Trong nhóm 15 thị trường lớn nhất, Hoa Kỳ là thị trường tăng mạnh nhất, còn Inđônêxia giảm mạnh nhất với 16,9%.

Mặc dù nhập khẩu tăng, cán cân thương mại toàn ngành nông lâm thủy sản vẫn duy trì thặng dư. Trong đó, nhóm lâm sản đạt thặng dư 7,36 tỷ USD, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2025; nhóm thủy sản thặng dư 4,13 tỷ USD, tăng 17%; nhóm nông sản thặng dư 1,51 tỷ USD, giảm 60,6%.

Ở chiều ngược lại, ba nhóm hàng vẫn trong tình trạng nhập siêu gồm đầu vào sản xuất với mức thâm hụt 1,43 tỷ USD, giảm 48,4%; sản phẩm chăn nuôi thâm hụt 2,36 tỷ USD, tăng 25,8%; và muối thâm hụt 12,4 triệu USD, giảm 4,5%.

Điện Biên thu hút gần 20.000 tỷ đồng, mở rộng kết nối giao thương với Trung Quốc và Lào

Tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư quốc tế năm 2026 giữa Điện Biên, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và tỉnh Luông Pha Bang (Lào), tỉnh Điện Biên đã trao 20 quyết định chấp thuận nhà đầu tư với tổng vốn gần 7.500 tỷ đồng, ký 6 biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư với tổng vốn cam kết trên 12.000 tỷ đồng….

Tân Cảng Sài Gòn lần thứ 9 liên tiếp đạt Thương hiệu Quốc gia Việt Nam

Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn (TCSG) được công nhận đạt Thương hiệu Quốc gia Việt Nam năm 2026 đối với hai nhóm dịch vụ: khai thác cảng; dịch vụ logistics, vận tải hàng hóa và các ngành kinh tế biển. Đây là lần thứ 9 liên tiếp TCSG được ghi nhận qua các kỳ xét chọn, đánh dấu hành trình duy trì và cải tiến chất lượng dịch vụ trong 18 năm.

Điện gió ngoài khơi - Ngành công nghiệp mới

Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy