Mặc dù lượng nhập khẩu giảm mạnh, giá nhập khẩu bình quân lại tăng nhẹ. Cụ thể, giá phân bón nhập khẩu bình quân trong 6 tháng đầu năm đạt khoảng 336,5 USD/tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong tháng 6/2026, Việt Nam nhập khẩu 311,2 nghìn tấn phân bón các loại, với trị giá 111,4 triệu USD. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, tổng khối lượng nhập khẩu phân bón đạt khoảng 2,1 triệu tấn, trị giá 694,3 triệu USD, giảm 34,9% về khối lượng và giảm 33,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Về thị trường cung cấp, Trung Quốc tiếp tục là nguồn cung phân bón lớn nhất của Việt Nam, chiếm 43,5% thị phần. Đứng thứ hai là Nga với 17,5%, tiếp theo là Lào với 7,7%.
So với cùng kỳ năm 2025, giá trị nhập khẩu phân bón trong 5 tháng đầu năm 2026 từ Trung Quốc giảm 0,9%; từ Nga giảm mạnh 39,2%; từ Lào giảm 17%.
Trong nhóm 15 thị trường nhập khẩu lớn nhất, Canađa là thị trường có mức tăng giá trị xuất khẩu phân bón sang Việt Nam cao nhất với 73,5%, trong khi Israen ghi nhận mức giảm mạnh nhất, tới 81,8%.
Mặc dù lượng nhập khẩu giảm mạnh, giá nhập khẩu bình quân lại tăng nhẹ. Cụ thể, giá phân bón nhập khẩu bình quân trong 6 tháng đầu năm đạt khoảng 336,5 USD/tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước.
Ở thị trường quốc tế, theo DTN (nền tảng cung cấp thông tin thị trường nông sản của Mỹ), giá bán lẻ phân bón tại Mỹ trong tháng 6/2026 giảm so với tháng trước. Trong 8 loại phân bón được theo dõi, có 6 loại giảm giá và 2 loại tăng nhẹ. Urê giảm mạnh nhất với mức 12%, xuống còn trung bình 731 USD/tấn. UAN32 giảm 7%, còn 544 USD/tấn.
Bốn loại phân bón khác cũng ghi nhận mức giảm gồm: MAP còn 910 USD/tấn; 10-34-0 đạt 723 USD/tấn; Anhydrous ở mức 1.091 USD/tấn; UAN28 còn 511 USD/tấn. Trong khi đó, DAP tăng nhẹ lên mức trung bình 955 USD/tấn, còn kali đạt 494 USD/tấn.
Đáng chú ý, nếu so với cùng kỳ năm trước, cả 8 loại phân bón đều tăng giá. Trong đó, kali tăng 4%; 10-34-0 tăng 8%; UAN32 tăng 10%; urê tăng 12%; DAP tăng 13%; MAP tăng 15%; UAN28 tăng 23%; còn Anhydrous tăng mạnh nhất với 41%.
Tại thị trường trong nước, giá phân bón trong tháng 6/2026 tiếp tục xu hướng tăng so với tháng trước tại khu vực phía Nam. Cụ thể, DAP Trung Quốc đạt 1.050.000 đồng/bao 50 kg, tăng 20.000 đồng/bao so với tháng 5. DAP Hàn Quốc ở mức 1.350.000 đồng/bao 50 kg, cũng tăng 20.000 đồng/bao. Urê Trung Quốc đạt 650.000 đồng/bao 50 kg, tăng 11.429 đồng/bao; Urê Phú Mỹ đạt 710.000 đồng/bao, tăng 8.571 đồng/bao.
Đối với phân NPK, Lân NPK 20-20-15+TE Cò Bay đạt 1.020.000 đồng/bao, tăng 11.429 đồng/bao; Lân NPK 20-20-15+TE Quốc tế đạt 1.350.000 đồng/bao, tăng 14.286 đồng/bao.
Trong khi đó, tại khu vực miền Bắc, giá phân bón nhìn chung ổn định so với tháng trước. Cụ thể, phân lân Lâm Thao giữ ở mức 9.500 đồng/kg; NPK 10-5-15 Quế Lâm đạt 15.600 đồng/kg; phân bón hữu cơ - vi sinh Quế Lâm 01 (bao 10 kg xanh) ở mức 7.500 đồng/kg. Phân đạm Urê hạt vàng Đầu Trâu 46A+ (hạt to, bao 25 kg) duy trì ở mức 23.500 đồng/kg; phân Kali Đầu Trâu Kali Sunphat Plus đạt 30.000 đồng/kg; riêng Urê Hà Bắc ổn định ở mức 18.500 đồng/kg.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết giá trị nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật và nguyên liệu trong tháng 6/2026 ước đạt 85,2 triệu USD. Lũy kế 6 tháng đầu năm, tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đạt khoảng 555,4 triệu USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2025.
Trung Quốc tiếp tục là nguồn cung thuốc bảo vệ thực vật và nguyên liệu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 46,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Đứng sau là Ấn Độ với thị phần 15% và Hàn Quốc chiếm 6,9%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu trong 5 tháng đầu năm 2026 từ Trung Quốc tăng 12,2%, từ Ấn Độ tăng 24,4%, trong khi nhập khẩu từ Hàn Quốc giảm 18%.
Trong nhóm 15 thị trường cung cấp lớn nhất, Pháp là thị trường ghi nhận mức tăng giá trị xuất khẩu thuốc bảo vệ thực vật và nguyên liệu sang Việt Nam cao nhất, tăng 84,9% so với cùng kỳ năm trước. Ngược lại, Thụy Sỹ là thị trường có mức giảm mạnh nhất, giảm 44,1%.
Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết giá trị nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu trong tháng 6/2026 ước đạt 444,7 triệu USD. Lũy kế 6 tháng đầu năm, tổng giá trị nhập khẩu đạt khoảng 2,2 tỷ USD, giảm 5,6% so với cùng kỳ năm 2025.
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường cung cấp thức ăn gia súc và nguyên liệu lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 21,1% thị phần. Đứng sau là Áchentina với 18,1% và Trung Quốc với 12,8%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu trong 5 tháng đầu năm 2026 từ Hoa Kỳ tăng 14,6%; từ Trung Quốc tăng mạnh 69,1%; trong khi nhập khẩu từ Áchentina giảm tới 62,1%.
Trong nhóm 15 thị trường nhập khẩu lớn nhất, Canada là thị trường có tốc độ tăng giá trị xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu sang Việt Nam mạnh nhất, gấp 5,1 lần so với cùng kỳ năm trước. Ngược lại, Argentina ghi nhận mức giảm mạnh nhất với mức 62,1%.
Trên thị trường thế giới, giá đậu tương và ngô giao kỳ hạn tháng 7/2026 tại Sở Giao dịch Chicago (Mỹ) đều giảm so với tháng 5/2026. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giá giảm do chịu tác động kép từ đà đi xuống của giá dầu thô và hoạt động thanh lý vị thế hàng hóa trước khi Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) công bố các báo cáo quan trọng về diện tích gieo trồng và tồn kho.
Cụ thể, hợp đồng đậu tương giao tháng 7/2026 giảm 73 US cent/bushel so với tháng trước, xuống còn 1.128,6 US cent/bushel. Hợp đồng ngô giao tháng 7/2026 giảm 50 US cent/bushel, còn 418,2 US cent/bushel.
Ở thị trường trong nước, giá cám gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục tăng trong tháng 6 do nguồn cung hạn chế. So với tháng 5/2026, giá cám khô tăng 400 đồng/kg lên 7.900 đồng/kg; cám hỗn hợp tăng 300 đồng/kg lên 7.700 đồng/kg; cám ướt tăng 200 đồng/kg lên 7.600 đồng/kg.
Trong khi đó, thị trường sắn lát tiếp tục chịu sức ép từ giá ngô duy trì ở mức thấp, làm giảm sức cạnh tranh của mặt hàng này. Đồng thời, lãi suất ngân hàng tăng trong thời gian gần đây cũng khiến chi phí vốn của các doanh nghiệp vay để thu mua, dự trữ sắn lát tăng đáng kể.
Trong bối cảnh đất nước đang đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nhanh và bền vững, việc sản xuất thành công nhôm thỏi đầu tiên không chỉ là thành quả của một dự án công nghiệp, mà còn là sự khẳng định về năng lực tự chủ, hiện thực hóa khát vọng chế biến sâu và nâng cao giá trị tài nguyên quốc gia...
Chỉ trong một thập kỷ, tỷ trọng của tôm hùm trong tổng kim ngạch xuất khẩu tôm đã tăng từ khoảng 7% lên gần 25% trong nửa đầu năm 2026. Đà tăng trưởng này mở ra triển vọng đưa tôm hùm trở thành ngành hàng xuất khẩu tỷ USD nếu tháo gỡ được các rào cản thị trường và xây dựng chiến lược phát triển dài hạn...
Việt Nam hiện là quốc gia dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hồ tiêu. Tuy nhiên, trước áp lực từ các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu, ngành hàng này cần thay đổi chiến lược: chuyển từ tăng trưởng quy mô sang ưu tiên chất lượng và tính bền vững. Để giữ vững vị thế, việc xây dựng chuỗi giá trị minh bạch và thắt chặt quy trình kiểm soát chất lượng là yêu cầu cấp thiết...
Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.
Các chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ đang tạo ra những thách thức và cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam. Mức thuế 12,5% theo Điều 301 không gây tác động tiêu cực lớn đến xuất khẩu công nghệ cao, nhưng lại đặt ra bài toán khó cho ngành nông sản và dệt may. Việt Nam cần có chiến lược thích ứng để duy trì lợi thế cạnh tranh.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 30-2026 phát hành ngày 27/07/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.