
Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) cho biết, theo số liệu báo cáo từ các doanh nghiệp, tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài trong tháng 9/2022 là 8.180 lao động (2.687 lao động nữ), gấp hơn 10 lần so với cùng kỳ năm ngoái (tháng 9 năm 2021 là 776 lao động, trong đó 18 lao động nữ).
Số lao động đi làm việc gồm các thị trường: Đài Loan 5.027 lao động (1.485 lao động nữ), Nhật Bản 2.775 lao động (1.164 lao động nữ), Trung Quốc 168 lao động nam, Singapore 49 lao động nam, Hungary 46 lao động (37 lao động nữ), Hàn Quốc và Liên Bang Nga mỗi nước 21 lao động nam, Algeria 18 lao động nam, Hồng Kông và Ba Lan mỗi nước 17 lao động nam và các thị trường khác.
Như vậy, trong 9 tháng năm 2022, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 103.026 lao động (37.299 lao động nữ), đạt 114,47% kế hoạch năm 2022, (năm 2022, dự tính kế hoạch đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là 90.000 lao động), và bằng 240,6% so với cùng kỳ năm ngoái (9 tháng năm 2021, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 42.818 lao động).
Nhật Bản tiếp tục là thị trường dẫn đầu tiếp nhận lao động trong 9 tháng qua với 51.859 người (23.421 lao động nữ), theo sau là Đài Loan với 44.584 lao động (13.329 lao động nữ), Hàn Quốc với 1.668 lao động (43 lao động nữ), Singapore 1.498 lao động (2 lao động nữ).
Trung Quốc 643 lao động nam, Rumania 540 lao động (102 lao động nữ), Hungary 522 lao động (255 lao động nữ), Liên bang Nga 318 lao động (20 lao động nữ), Ba Lan 315 lao động (57 lao động nữ) và các thị trường khác.
Riêng với thị trường Nhật Bản, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đánh giá, đây là một trong những thị trường lao động trọng điểm mà Việt Nam đang đưa người lao động đến làm việc.
Những năm gần đây, số lao động Việt Nam sang làm việc tại nước này chiếm 50% tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài hàng năm. Đây cũng là một trong những thị trường có điều kiện làm việc và thu nhập tốt nhất, được người lao động Việt Nam ưa thích.
Liên quan đến công tác đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, mới đây tại phiên họp của Ủy ban Xã hội của Quốc hội hôm 29/9, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung thông tin, hiện hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trong năm 2022 đã dần hồi phục trở lại, tập trung chủ yếu ở các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan…
Trong thời gian tới đây, việc đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài sẽ theo hướng có chọn lọc hơn. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ từng bước cân đối lực lượng lao động trong nước và đi nước ngoài theo hướng có lợi nhất cho người lao động.
Bộ cũng sẽ tập trung đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đưa đi nước ngoài làm việc nhằm học tập kinh nghiệm, sau này trở về phục vụ đất nước.
Giữa nhiều lựa chọn nghề nghiệp, người trẻ ngày nay không chỉ quan tâm đến công việc tiếp theo, mà còn trăn trở về câu hỏi xa hơn: Đâu là con đường cho phép mình liên tục phát triển, tạo dựng giá trị và xây dựng một sự nghiệp dài hạn?
Sau nhiều ngày ảnh hưởng trên khu vực vịnh Bắc Bộ, bão số 4 và hoàn lưu mưa lớn đã gây thiệt hại nặng tại nhiều tỉnh, thành phố miền Bắc và Bắc Trung Bộ. Hiện các địa phương đang khẩn trương khắc phục hậu quả, khôi phục hạ tầng thiết yếu và hỗ trợ người dân sớm ổn định cuộc sống...
Nghị định 334/2026/NĐ-CP quy định tự chủ và cơ chế tài chính trong giáo dục đại học, đổi mới phương thức phân bổ ngân sách nhà nước, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực...
Doanh nghiệp bỏ vốn vào đất là quyết định cho 20 năm, 50 năm. Vì vậy, điều doanh nghiệp cần không phải là điều kiện tối ưu, mà là điều kiện có thể xây dựng. Tại Kết luận 119-KL/TW, Bộ Chính trị cũng yêu cầu các quy định của Luật phải mang tính ổn định, có giá trị lâu dài.
Các học viên Việt Nam sẽ đến Vương quốc Anh để theo đuổi nhiều lĩnh vực khác nhau, từ kinh tế, quản trị, luật và giáo dục đến y tế công cộng, nghiên cứu bệnh truyền nhiễm và trí tuệ nhân tạo (AI)...
4 nền kinh tế lớn nhất EU, bao gồm Đức, Pháp, Italy và Tây Ban Nha, chiếm tỷ trọng tới 61% tổng GDP của cả khối...
Doanh nghiệp bỏ vốn vào đất là quyết định cho 20 năm, 50 năm. Vì vậy, điều doanh nghiệp cần không phải là điều kiện tối ưu, mà là điều kiện có thể xây dựng. Tại Kết luận 119-KL/TW, Bộ Chính trị cũng yêu cầu các quy định của Luật phải mang tính ổn định, có giá trị lâu dài.