
So với toàn thế giới, nước Đức chỉ chiếm 0,27% về diện tích, 1,29% về dân số, nhưng chiếm 2,24% sản lượng lương thực có hạt, 6,64% GDP và 10,1% xuất khẩu.
Trong tổng số 199 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh, nước Đức đứng thứ 61 về diện tích, thứ 14 về dân số, thứ 40 về mật độ dân số, thứ 3 về GDP (sau Mỹ, Nhật).
Trong GDP, nhóm ngành nông, lâm nghiệp- thủy sản chiếm 1%, công nghiệp- xây dựng chiếm 29%, dịch vụ chiếm 69%. GDP bình quân đầu người đạt trên 33 nghìn USD, cao gấp 5 lần mức trung bình của thế giới. Giá tiêu dùng tăng thấp (trên dưới 1,5%/năm). Là một trong vài nước có số máy tính bình quân 1.000 dân cao nhất thế giới (một người rưỡi một máy tính).
Chênh lệch thu nhập của 20% dân số giàu nhất so với 20% dân số nghèo nhất của Đức thấp (chỉ có 4,3 lần). Hệ số Gini chỉ có 28,3%, tức là tương đối bình đẳng. Chỉ số phát triển liên quan đến giới đạt 0,926, đứng thứ 16 thế giới. Chỉ số phát triển con người đạt 0,93, đứng thứ 20 thế giới. Sản lượng than đạt trên 230 triệu tấn, đứng thứ 7 thế giới. Sản lượng giấy đứng thứ 5 thế giới. Sản lượng điện bình quân đầu người lên đến gần 7.000 kWh, cao gấp 2,7 lần mức bình quân của thế giới.
Kim ngạch xuất khẩu đạt gần 1.000 tỷ USD, cao nhất thế giới, bình quân đầu người đạt trên 11 nghìn USD, cao gấp 8 lần mức trung bình của thế giới. Trong quan hệ thương mại quốc tế, nước Đức luôn ở thế xuất siêu. Xuất siêu của Đức lớn nhất thế giới. Bình quân 10 người dân đón 3 người khách quốc tế. Chi tiêu của khách quốc tế lên đến trên 65 tỷ USD, cao nhất thế giới. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Đức cộng dồn đứng thứ 7 thế giới (sau Mỹ, Anh, Pháp, Hồng Kông, Bỉ và Luxembourg, Hà Lan).
Đầu tư trực tiếp của Đức vào Việt Nam tính đến cuối tháng 4/2007 có 95 dự án với tổng số vốn đăng ký mới và bổ sung đạt 513,3 triệu USD, đứng thứ 21 trong hơn 70 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. So với tiềm năng và so với nhiều nước và vùng lãnh thổ khác, thì cả về số dự án, cả về lượng vốn đăng ký đầu tư của Đức vào Việt Nam như thế là quá ít. Trong khi nước Đức là nước có thiết bị, kỹ thuật- công nghệ nguồn của nhiều ngành, lĩnh vực mũi nhọn của thế giới.
Đức là thị trường xuất khẩu lớn thứ 6 của Việt Nam (sau Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia, Singapore) và là 7 thành viên “câu lạc bộ 1 tỷ USD” (thêm Anh); quý I/2007 vượt qua Singapore lên đứng thứ 5 trong các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Đức gồm có giày dép, hàng dệt may, cà phê, sản phẩm gỗ, hàng thủy sản, ba lô, cặp, túi, ví, cao su, hàng mây, tre, cói, lá, hạt tiêu, hàng thêu, hạt điều nhân... Theo đó, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Đức chủ yếu là hàng gia công, hàng nông sản chưa qua chế biến hoặc mới sơ chế, hàng thủ công mĩ nghệ.
Đức là thị trường nhập khẩu đứng thứ 10 của Việt Nam (sau Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Hồng Kông, Mỹ). Mặt hàng chủ yếu mà Việt Nam nhập khẩu từ Đức gồm có máy móc, thiết bị thông tin liên lạc, ô tô các loại, máy, phụ tùng máy công nghiệp thực phẩm, thiết bị phụ tùng dệt may, máy in và máy phụ trợ in, máy ép gỗ hoặc lie, thiết bị điện để chuyển mạch hay bảo vệ mạch điện, sản phẩm bằng sắt hoặc thép, tua bin, tân dược, vải, máy, phụ tùng máy sản xuất xi măng, thiết bị và dụng cụ dùng cho ngành y, chất dẻo, các loại máy và thiết bị khác, vv.
Trong quan hệ thương mại với Đức, Việt Nam luôn ở vị thế xuất siêu và quy mô xuất siêu có xu hướng tăng lên.
Đức có số khách đến Việt Nam năm 2006 đạt trên 76,4 nghìn lượt người, đứng thứ 13 trong các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới (sau Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, Australia, Campuchia, Pháp, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Anh). Bốn tháng đầu năm 2007, nước này cũng đã có 36,1 nghìn lượt khách đến Việt Nam, tăng 15,8% so với cùng kỳ, cao hơn tốc độ tăng chung (12,5%). Mức chi tiêu bình quân của khách du lịch đến từ Đức đạt trên 1.552 USD, đứng thứ 4 (sau Australia, Canada, Mỹ) chủ yếu do có số ngày ở Việt Nam nhiều (22 ngày).
Mặc dù quan hệ đầu tư, thương mại, du lịch giữa Đức và Việt Nam đã có bước phát triển nhưng vẫn còn thấp so với tiềm năng và yêu cầu, cần được nâng tầm lên cao hơn nữa.




Thị trường vận tải biển quốc tế từ đầu tháng 5/2026 đến nay đang chứng kiến đợt tăng giá cước mạnh trên nhiều tuyến vận chuyển trọng điểm, đặc biệt là các tuyến kết nối châu Á với Bắc Mỹ và châu Âu. Đối với ngành thủy sản Việt Nam, đây là diễn biến đáng lo ngại bởi logistics luôn là một trong những khoản chi phí lớn nhất trong cơ cấu giá thành xuất khẩu...
Kết quả thẩm tra và phê duyệt cập nhật Danh sách doanh nghiệp thủy sản Việt Nam được phép xuất khẩu vào thị trường Đài Loan là cơ sở quan trọng giúp các doanh nghiệp duy trì hoạt động xuất khẩu ổn định, nâng cao khả năng tiếp cận và mở rộng thị phần...
Từ 1/7/2026, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận và chứng nhận lại chủng loại gạo thơm xuất khẩu sang EU và Vương quốc Anh để được hưởng ưu đãi thuế quan theo các Hiệp định EVFTA và UKVFTA sẽ chính thức được giao về địa phương. Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính, hướng tới mô hình quản lý linh hoạt hơn, sát thực tiễn hơn và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp...
Xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam tiếp tục duy trì tăng trưởng trong những tháng đầu năm 2026 nhờ sự bứt phá của các thị trường châu Á, đặc biệt là Trung Quốc. Tuy nhiên, ngành gỗ cũng đang đối mặt với nhiều thách thức từ các biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu xanh hóa ngày càng khắt khe từ EU và áp lực chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để nâng cao năng lực cạnh tranh...
Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN (USABC) vừa có kiến nghị liên quan đến công tác quản lý nhập khẩu hóa chất của cơ quan chức năng Việt Nam. Theo Bộ Tài chính, đơn vị đã đề xuất lên Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Công thương rà soát, sửa đổi Nghị định số 26/2026/NĐ-CP để xử lý những bất cập trong quá trình triển khai.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.