
Báo cáo tóm tắt về tác động của Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) đối với Việt Nam do Văn phòng dịch vụ dự án Liên Hợp quốc (UNOPS) phối hợp với Cục biến đổi khí hậu (Bộ Tài Nguyên môi trường) thực hiện đã đánh giá tác động của quá trình chuyển dịch năng lượng trong ngành điển trong lộ trình thực hiện NDC hướng tới Netzero.
Để định lượng tác động của quá trình chuyển dịch năng lượng trong ngành điện vào việc giảm phát thải khí nhà kính góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu đã đề ra trong NDC cũng như Chiến lược Quốc gia về chuyển đổi xanh của Việt Nam, nhóm thực hiện báo cáo đã xem xét cơ cấu dự kiến của tổng sản lượng điện vào năm 2030 gồm các nguồn: thủy điện, nhiệt điện đốt than, nhiệt điện đốt lò FO, dầu diesel, khí đốt, năng lượng tái tạo.
Với những gì đã diễn ra vào năm 2019 so sánh với mục tiêu đặt ra vào năm 2030 trong Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu cho thấy mức giảm cường độ phát thải của Việt Nam ước tính sơ bộ là 13% trong 11 năm (*).
Nhóm nghiên cứu đã sử dụng con số ước tính này để hiệu chỉnh quá trình chuyển đổi năng lượng cho ngành điện. “Để định lượng tác động của quá trình chuyển đổi năng lượng theo lộ trình của ngành điện đối với các ngành mục tiêu CBAM, chúng tôi đã giảm 13% lượng phát thải từ điện cho mỗi ngành trong vòng 11 năm và sử dụng tỷ lệ phát thải từ điện trên tổng lượng phát thải để tính mức giảm về cường độ phát thải trong mỗi ngành mục tiêu CBAM”.
Theo tính toán của nhóm báo cáo, trong khoảng thời gian 10 năm kể từ năm 2026 đến năm 2035, quá trình chuyển dịch năng lượng trong ngành điện sẽ tạo ra lợi ích ước tính lần lượt là 209 triệu USD chỉ từ việc định giá carbon và 248 triệu USD từ việc áp dụng cả định giá carbon và CBAM.
Từ năm 2028 khi giá carbon được áp dụng, GDP sẽ tăng theo thời gian. Điều này là do quá trình chuyển dịch năng lượng sẽ phân bổ các nguồn lực kinh tế sang các ngành không sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong khi nguồn năng lượng này sẽ dần trở nên đắt đỏ hơn.
Tuy nhiên, ngay cả khi Việt Nam có thể dành nguồn lực để thúc đẩy quá trình chuyển dịch năng lượng và đạt được kết quả như mong đợi, nhưng nếu không áp dụng định giá carbon (ví dụ trước năm 2028), Việt Nam khó có thể đạt được mục tiêu khí hậu vào năm 2030 do phải bỏ chi phí cho việc phân bổ lại các nguồn tài nguyên sang các ngành không sử dụng nhiên liệu hóa thạch.
Cụ thể là khi lượng phát thải từ năng lượng hóa thạch bình quân đầu người tăng lên, Việt Nam sẽ phát thải nhiều khí thải từ năng lượng hóa thạch hơn để tạo ra một USD giá trị kinh tế gia tăng.
Do đó, trên cơ sở các giả định, tham số khác nhau và các định hướng phát triển trong tương lai, nhóm nghiên cứu đã đề xuất một số phát hiện và khuyến nghị mà các cơ quan hoạch định chính sách có thể xem xét.
Thứ nhất, Báo cáo khẳng định cơ chế CBAM ở hình thức hiện tại chỉ tác động trực tiếp đến một phần nhỏ của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam. Trong tương lai, phạm vi của CBAM có thể mở rộng (ví dụ: gốm sứ, bột giấy và giấy thuộc EU-ETS), song tác động này chỉ đáng kể với các nhà xuất khẩu sang EU.
Việt Nam có thể phải đối mặt với chi phí gián tiếp do CBAM do doanh nghiệp có thể sẽ phải tăng giá thành sản phẩm nhằm bù đắp lại chi phí thực hiện việc kiểm kê khí nhà kính và xây dựng hệ thống báo cáo.
Giải pháp cho bài toán này là Việt Nam cần đàm phán với các đối tác phát triển để cung cấp nghiên cứu sâu hơn về chuyển dịch năng lượng nhằm làm giảm cường độ phát thải của các hàng hóa phát thải cao, bao gồm cả các hàng hóa mà Việt Nam không xuất khẩu; xem xét hỗ trợ nghiên cứu sâu hơn và thu thập dữ liệu toàn diện về danh sách các mặt hàng khác nằm trong ETS của EU trong tương lai gần (2-3 năm).
“Hơn nữa Việt Nam cũng cần tham gia đàm phán với các đối tác thương mại chính của mình để ngăn chặn việc áp dụng CBAM bên ngoài EU” nhóm nghiên cứu khuyến cáo.
Thứ hai, về mặt kỹ thuật, nhóm nghiên cứu khẳng định Việt Nam hoàn toàn có thể giảm cường độ phát thải trong các ngành chịu CBAM.
Cùng với nhận định “có sự khác biệt đáng kể về cường độ phát thải giữa mức trung bình của Việt Nam và toàn cầu cũng như là giữa các doanh nghiệp của từng ngành riêng lẻ”, kết quả khảo sát doanh nghiệp của nhóm nghiên cứu cũng cho thấy khả năng cải thiện hiệu quả năng lượng vì các doanh nghiệp có cường độ phát thải cao có thể bắt kịp các doanh nghiệp cùng ngành.
Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) để thúc đẩy tiến bộ công nghệ nhằm đạt hiệu quả tổng thể, tạo ra nhiều sản phẩm hơn trong khi sử dụng ít nguyên liệu đầu vào hơn.
Bên cạnh đó các công cụ kinh tế cũng có vai trò rất quan trọng nhằm thúc đẩy hơn nữa việc giảm cường độ phát thải thông qua thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng các nguồn năng lượng tái tạo.
Thứ ba, Báo cáo tiếp tục nhấn mạnh định giá carbon là cần thiết để giảm phát thải nhiên liệu hóa thạch trong toàn bộ nền kinh tế Việt Nam.
Định giá carbon làm chi phí phát thải tăng lên sẽ trực tiếp tạo sức ép khiến doanh nghiệp tư nhân phải thay thế nguồn nguyên liệu đầu vào hoặc hàng hóa tiêu dùng có phát thải cao bằng các lựa chọn thay thế phát thải thấp.
“Định giá carbon cũng có thể tạo ra doanh thu hàng tỷ đô la mỗi năm và số tiền này có thể được sử dụng để hỗ trợ việc chuyển đổi công nghệ sạch, thúc đẩy quá trình chuyển dịch năng lượng, qua đó cung cấp khuôn khổ để các bên trong cả khu vực công và tư thực hiện giảm phát thải khí nhà kính”.
“Vì vậy, việc áp dụng định giá carbon cần được xem xét trong bối cảnh rộng hơn đó là toàn bộ quá trình chuyển dịch năng lượng, phát triển carbon thấp của Việt Nam và các đồng lợi ích liên quan khác (môi trường, sức khỏe, v.v.)”, Báo cáo đề xuất.
Thứ tư, định giá carbon là một ưu tiên trong việc thực hiện NDC của Việt Nam.
Việc áp dụng cơ chế định giá carbon chính là chìa khóa để Việt Nam đạt được các mục tiêu NDC của mình, mặc dù những công cụ khác như trợ cấp cho năng lượng tái tạo cũng có thể giúp đạt được mục tiêu NDC.
Cuối cùng, cần xem xét việc đẩy nhanh các hành động và chính sách hướng tới các mục tiêu giảm phát thải của Việt Nam khi thích hợp.
Theo số liệu của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), lượng phát thải từ sử dụng năng lượng hóa thạch (dầu, than, khí đốt) tại Việt Nam tăng từ 148 triệu tấn CO2 năm 2014 lên 296 triệu tấn CO2 năm 2020, tăng 12% hàng năm, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng trưởng dân số.
Khi lượng phát thải từ năng lượng hóa thạch bình quân đầu người tăng lên, Việt Nam sẽ phát thải nhiều khí thải từ năng lượng hóa thạch hơn để tạo ra một $ giá trị kinh tế gia tăng. Nếu xu hướng này tiếp tục, Việt Nam sẽ ngày càng khó đạt được các mục tiêu giảm phát thải của mình.
(*) Các con số được tính giá trị theo năm 2019.
Giai đoạn 2026 - 2028, Hà Nội sẽ rà soát, đánh giá các khu, cụm công nghiệp đang hoạt động và xây dựng đề án chuyển đổi, đăng ký, chứng nhận khu, cụm công nghiệp sinh thái. Giai đoạn 2029 - 2045, triển khai đồng bộ các giải pháp theo đề án đã được phê duyệt; phấn đấu hoàn thành chuyển đổi các khu, cụm công nghiệp đang hoạt động sang mô hình sinh thái vào năm 2045…
Ngân hàng Thế giới hủy mục tiêu dành 45% vốn vay hằng năm cho các dự án khí hậu, song vẫn gia hạn Kế hoạch Hành động về Biến đổi khí hậu (CCAP)...
Theo danh mục được HĐND Thành phố Hà Nội ban hành, có 13 loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường phải thực hiện quan trắc tự động, liên tục nước thải và 5 loại hình phải quan trắc bụi, khí thải...
Chỉ còn chưa đầy hai tuần nữa, Nghị định số 180/2026/NĐ-CP về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng sẽ chính thức có hiệu lực, tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai các dự án carbon rừng và phát triển thị trường tín chỉ carbon. Để bảo đảm triển khai đồng bộ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang khẩn trương hoàn thiện Thông tư hướng dẫn phương pháp định giá carbon rừng, dự kiến ban hành trước ngày 15/7/2026...
Doanh số xe điện toàn cầu đang tăng mạnh, nhưng những tranh cãi về tác động môi trường và chuỗi cung ứng khoáng sản của pin xe điện cũng ngày càng gay gắt. Theo nhiều chuyên gia, một số chỉ trích nhằm vào pin xe điện chưa phản ánh đầy đủ những thay đổi đang diễn ra trong công nghệ sản xuất và chuỗi cung ứng của ngành...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Hiện nhiều cấu phần trong một thiết bị bay không người lái UAV đã được doanh nghiệp Việt Nam tự chủ sản xuất. Tuy nhiên, động lực để phát triển UAV nói riêng và kinh tế tầm thấp nói chung còn đang thiếu. Mở thế chế để quản lý thiết bị bay không người lái, đưa UAV vào từng ngành kinh tế trọng điểm là điều kiện tiên quyết phát triển kinh tế tầm thấp trong thời gian tới.