Theo Nghị định số 90/2026/NĐ-CP quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, có hiệu lực từ ngày 15/5, đã quy định rõ nhiều
mức xử phạt nghiêm khắc đối với hành vi chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm y tế, cho mượn thẻ bảo hiểm y tế hoặc sử dụng
sai quy định.
Nghị định 90 nêu rõ các quy định xử phạt
vi phạm về sử dụng thẻ bảo hiểm y tế trong khám bệnh, chữa bệnh.
Theo đó, phạt tiền đối với hành vi cho
người khác mượn thẻ bảo hiểm y tế hoặc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế của người khác
trong khám bệnh, chữa bệnh theo một trong các mức sau đây:
Từ 1 – 2 triệu
đồng đối với trường hợp vi phạm nhưng chưa làm thiệt hại đến quỹ bảo hiểm
y tế.
Từ 3 – 5 triệu đồng đối với hành vi sử dụng
thẻ bảo hiểm y tế chiếm đoạt tiền bảo hiểm y tế dưới 10 triệu đồng, hoặc gây thiệt hại cho quỹ bảo hiểm y
tế dưới 20 triệu đồng.
Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc hoàn trả số tiền đã
vi phạm vào tài khoản thu của quỹ bảo hiểm y tế (nếu có) đối với hành vi vi phạm.
Cũng theo Nghị định, quy định chậm đóng bảo hiểm y tế sẽ bị phạt tiền với các
mức khác nhau.
Cụ thể, phạt tiền đối với người
sử dụng lao động không lập danh sách, lập danh sách không đầy đủ số người tham
gia bảo hiểm y tế trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại điểm
b khoản 1 Điều 17 Luật Bảo hiểm y tế; không lập danh sách hoặc lập danh sách
không đầy đủ số người tham gia bảo hiểm y tế nhưng thuộc trường hợp không bị
coi là trốn đóng theo quy định của pháp luật theo một trong các mức sau đây:
Từ 1 – 2 triệu đồng, khi vi phạm dưới 10 người
lao động; từ 2 - 4 triệu đồng,
khi vi phạm từ 10 đến dưới 50 người lao động; từ 4 – 7 triệu
đồng, khi vi phạm từ 50 đến dưới 100 người lao động.
Từ 7 – 15 triệu đồng, khi vi phạm từ 100 đến
dưới 500 người lao động; từ
15 - 25 triệu đồng, khi vi phạm từ
500 đến dưới 1.000 người lao động; từ 25 -
35 triệu đồng, khi vi
phạm từ 1.000 người lao động trở lên.
Phạt tiền đối với người sử dụng
lao động chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng bảo hiểm y tế, kể từ sau thời điểm đóng chậm
nhất theo khoản 8 Điều 15 Luật Bảo hiểm y tế; chưa đóng hoặc đóng chưa đầy
đủ số tiền phải đóng bảo hiểm y tế, nhưng thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng theo quy định
của pháp luật theo một trong các mức sau đây:
Từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị dưới 5 triệu đồng; từ 1 – 2 triệu đồng đối với mức vi phạm có
giá trị từ 5 triệu đến
dưới 10 triệu đồng.
Từ 2 – 3 triệu đồng đối với mức vi phạm có
giá trị từ 10 triệu đến
dưới 20 triệu đồng; từ 3 – 5
triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị từ 20 triệu đồng đến dưới 40 triệu đồng.
Từ 5 – 7
triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị từ 40 triệu đồng đến dưới 60 triệu đồng; từ 7 – 15
triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị từ 60 triệu đồng đến dưới 80 triệu đồng.
Từ 15 – 20
triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị từ 80 triệu đồng đến dưới 120 triệu đồng; từ 20 – 25
triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị từ 120 triệu đồng đến dưới 160 triệu đồng; từ 25 – 35
triệu đồng đối với mức vi phạm có giá trị từ 160 triệu đồng trở lên.
Cùng với xử phạt hành chính, biện pháp khắc phục
hậu quả đối với người sử dụng lao động là buộc hoàn trả số tiền mà đối
tượng tham gia bảo hiểm y tế bị thiệt hại (nếu có) đối với hành vi quy định nêu trên. Trường hợp không
hoàn trả được cho đối tượng thì nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của
pháp luật.
Đồng thời, buộc nộp số lợi bất hợp pháp
có được vào tài khoản thu của quỹ bảo hiểm y tế đối với hành vi quy định.
Buộc đóng đủ số tiền chưa đóng hoặc
đóng chưa đầy đủ, tương ứng với thời gian chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ theo
quy định của pháp luật.
Buộc nộp khoản tiền lãi của số tiền
chậm đóng theo mức 0,03%/ngày tính trên số tiền chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ,
tương ứng với thời gian chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ theo quy định của pháp
luật.