Ngày 1/11/2021, IHS Markit công bố báo cáo Chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam tháng 10/2021.
Trong đó có ba điểm nhấn đáng chú ý: Sản lượng, số lượng đơn đặt hàng mới và hoạt động mua hàng đã tăng trở lại; Việc làm tiếp tục giảm khi công nhân vẫn còn ở quê nhà và tốc độ tăng chi phí đầu vào đạt mức cao của mười năm rưỡi.
Báo cáo nêu rõ, tình trạng y tế công cộng cải thiện và kéo theo đó là việc nới lỏng các biện pháp hạn chế đã giúp lĩnh vực sản xuất của Việt Nam tăng trưởng trở lại trong tháng 10.
Sản lượng, số lượng đơn đặt hàng mới và hoạt động mua hàng đã tăng trở lại, trong khi niềm tin kinh doanh cũng đã tăng. Mặt khác, việc làm tiếp tục giảm khi có nhiều báo cáo cho biết công nhân vẫn còn ở quê nhà sau làn sóng đại dịch Covid-19 mới đây.
Tuy nhiên, áp lực giá cả vẫn mạnh, khi chi phí đầu vào tăng với một trong những mức mạnh nhất từng được ghi nhận trong bối cảnh chi phí vận chuyển tăng và nguồn nguyên vật liệu khan hiếm.
Để bù đắp, các công ty đã tăng giá bán nhanh hơn so với tháng 9. PMI ngành sản xuất của Việt Nam đã tăng trở lại lên trên ngưỡng trung tính 50 điểm trong tháng 10 khi đạt 52,1 điểm sau khi chỉ đạt 40,2 điểm trong tháng 9. Điều này cho thấy các điều kiện kinh doanh đã cải thiện trong lĩnh vực sản xuất, từ đó kết thúc thời kỳ giảm kéo dài bốn tháng.
Việc nới lỏng các hạn chế do Covid-19 đã giúp một số công ty tái khởi động sản xuất trong tháng 10, trong khi những công ty khác tăng sả̉n lượng để đáp ứng số lượng đơn đặt hàng mới tăng. Kết quả là, sản lượng được ghi nhận tăng lần đầu tiên trong năm tháng.
Số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh trở lại cũng được ghi nhận khi các nhà sản xuất và khách hàng của họ đều khôi phục hoạt động. Sự cải thiện của tình hình đại dịch đã cho phép các công ty hưởng lợi từ tình trạng nhu cầu tăng trên thị trường quốc tế, từ đó số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đã tăng lần đầu kể từ tháng 5.
Niềm tin kinh doanh đã cải thiện đáng kể trong tháng 10 khi làn sóng đại dịch Covid-19 mới đây đã có dấu hiệu dịu lại. Niềm hy vọng đại dịch sẽ được kiểm soát đã giúp mức độ lạc quan đạt mức cao của 29 tháng.
Báo cáo cũng đề cập đến những vấn đề liên quan đến việc làm hiện hữu bất kể tăng trưởng đã trở lại. Việc làm tiếp tục giảm đáng kể trong tháng 10 khi một số công ty cho biết một số nhân viên của họ đã trở về quê nhà trong làn sóng đại dịch mới nhất và vẫn chưa quay trở lại làm việc.
Tình trạng khan hiếm lao động đã góp phần làm lượng công việc thêm áp lực cho công suất. Tuy nhiên, tốc độ tăng đã chậm lại so với mức kỷ lục của tháng 9. Chi phí đầu vào đã tăng với tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 4/2011 và là một trong những mức tăng mạnh nhất trong lịch sử khảo sát.
Chi phí vận tải tăng được nhiều người nhắc đến, và điều này làm tăng áp lực lạm phát vốn do tình trạng khan hiếm nguyên vật liệu gây ra. Để đối phó với chi phí đầu vào tăng, các nhà sản xuất tăng giá bán hàng với tốc độ đáng kể và là tốc độ tăng nhanh nhất trong năm tháng.
Những nỗ lực hạn chế ảnh hưởng của tình trạng tăng giá có thể xảy ra trong tương lai đã khuyến khích các công ty tăng tồn kho hàng hóa đầu vào tháng thứ ba liên tiếp trong tháng 10. Điều này đã được hỗ trợ thêm bởi hoạt động mua hàng tăng mạnh trở lại với tốc độ tăng gần kỷ lục.
Cuối cùng, tồn kho hàng thành phẩm đã giảm nhẹ trong tháng 10. Một số công ty có hàng tồn kho giảm khi hàng thành phẩm đã được đem bán, trong khi những công ty khác cho biết sản lượng tăng trở lại đã giúp họ ổn định hàng tồn kho.
Bình luận về kết quả khảo sát mới đây, Andrew Harker - Giám đốc Kinh tế tại IHS Markit, nhận định theo kết quả khảo sát PMI mới nhất, tình hình đại dịch cải thiện, và kéo theo là việc nới lỏng các biện pháp hạn chế, đã giúp các nhà sản xuất Việt Nam hoạt động trở lại trong tháng 10.
Đồng thời với việc tăng sản lượng, các công ty cũng tự tin hơn nhiều về triển vọng sắp tới so với các tháng gần đây. Tuy nhiên, vẫn có những vấn đề còn tồn tại do đợt bùng phát gần đây của đại dịch mà có thể kìm hãm tăng trưởng.
Thứ nhất, những khó khăn với hoạt động vận tải và chuỗi cung ứng vẫn chưa kết thúc, từ đó khiến việc tìm kiếm nguồn hàng và phân phối sản phẩm trở nên khó khăn.
Thứ hai, một số công ty vẫn đợi công nhân trở lại từ quê nhà nơi mà họ đã phải quay về trong làn sóng Covid-19 gần đây, và điều này dẫn đến tình trạng khan hiếm nhân công trong tháng 10. Hy vọng những khó khăn này sẽ giảm bớt khi lĩnh vực sản xuất tiếp tục bình thường trở lại trong những tháng tới.
Chỉ dẫn địa lý không chỉ là “tấm vé thông hành” khẳng định uy tín sản phẩm, mà còn là công cụ nâng cao giá trị đặc sản địa phương. Tuy nhiên, để chuyển hóa lợi thế pháp lý này thành giá trị thương mại bền vững, các địa phương và doanh nghiệp cần vượt qua nhiều điểm nghẽn trong tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và xúc tiến thị trường...
Việc xây dựng Nghị quyết về FTZ và ILZ tại TP. Hồ Chí Minh được kỳ vọng tạo thêm động lực cho thương mại, logistics và thu hút đầu tư. Tuy nhiên, cộng đồng doanh nghiệp cho rằng cơ chế mới phải thực sự khác biệt, linh hoạt và có khả năng triển khai nhanh, nếu không FTZ khó tạo ra giá trị mới...
Xuất khẩu cà phê Việt Nam đang đứng trước bài toán nâng giá trị thay vì chỉ gia tăng sản lượng. Với lợi thế lớn về Robusta, việc kiểm soát chất lượng từ vùng nguyên liệu, phân hóa sản phẩm và đổi mới phương thức thu mua được xem là những yêu cầu then chốt để nâng giá trị hạt cà phê...
Thương mại điện tử đang giúp doanh nghiệp Việt tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng toàn cầu, trong khi AI, dữ liệu lớn và các nền tảng số có thể làm thay đổi cách xúc tiến thương mại. Tuy nhiên, công nghệ không xóa bỏ những rào cản căn bản của xuất khẩu. Để hàng Việt đi xa, cần kết nối dữ liệu thị trường, tiêu chuẩn, logistics, nền tảng số và nhà mua hàng thành một hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp...
Xuất khẩu phân bón Việt Nam bứt phá mạnh mẽ cả về lượng lẫn giá trị, trong khi nhập khẩu giảm sâu, khẳng định năng lực sản xuất nội địa được nâng cao. Tận dụng tốt nhu cầu quốc tế, các doanh nghiệp đang đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như urê, NPK, DAP để mở rộng thị trường và gia tăng kim ngạch...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Theo kết quả chấm điểm về giải ngân vốn đầu tư công tháng 8/2026 do Bộ Tài chính vừa công bố, Thanh Hóa nằm trong tốp các tỉnh, thành phố có tốc độ giải ngân đầu tư công rất tốt, xếp thứ 17 trong số 34 tỉnh, thành phố về giải ngân vốn đầu tư công năm 2026; xếp thứ 12 về giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 được phép kéo dài sang năm 2026. Kết quả này tiếp tục cho thấy sự chuyển động tích cực trong tổ chức thực hiện, đồng thời tạo thêm động lực để tỉnh khơi thông nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy nhanh tiến độ các dự án, đưa nguồn vốn đầu tư thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội.