Số liệu đưa ra tại hội thảo “Thị trường Hoa Kỳ 2026: Cơ hội, thách thức và các giải pháp đột phá cho doanh nghiệp Việt Nam”, cho thấy Hoa Kỳ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 28-30% tổng kim ngạch xuất khẩu. Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Hoa Kỳ đã tăng từ 450 triệu USD năm 1995 lên 209,5 tỷ USD năm 2025 - tăng khoảng 465 lần sau 30 năm.
THÁCH THỨC KHÔNG CHỈ Ở THUẾ QUAN
Dù vậy, thách thức cho hàng Việt tại thị trường này cũng rất lớn. Bức tranh thuế quan đang khiến không ít doanh nghiệp lo lắng. Theo ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương), Hoa Kỳ và Việt Nam hiện chưa có Hiệp định thương mại tự do song phương. Do đó, mức thuế nền tảng áp dụng chung hiện nay vẫn là thuế tối huệ quốc (MFN).
Tuy nhiên, rủi ro lớn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lại nằm ở các sắc lệnh thuế bổ sung có tính chất đan xen. Ông Hải cho biết bên cạnh MFN, hàng hóa xuất khẩu sang Hoa Kỳ có thể chịu thêm các lớp thuế khác tùy thuộc vào từng mặt hàng đặc thù.
Cụ thể, thuế Mục 301 với mức 12,5% chỉ áp dụng với một số danh mục sản phẩm nhất định liên quan đến sở hữu trí tuệ hoặc lao động cưỡng bức. Trong khi đó, thuế Mục 232 được áp dụng hoàn toàn độc lập đối với sản phẩm nhôm và thép.
Ngoài ra, còn có các sắc lệnh thuế phòng vệ thương mại như thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp đang bủa vây lên các mặt hàng chủ lực mà Hoa Kỳ đưa vào danh sách nhạy cảm như tôm, cá tra, pin mặt trời, trụ điện tháp gió, tôn, thép...
Ông Hải nhận định rằng không phải tất cả các mặt hàng đều chịu toàn bộ các cột thuế. Việc loại bỏ thuế đối ứng thời gian qua đã giảm áp lực lớn, nhưng thách thức hiện nay không chỉ dừng lại ở câu chuyện thuế quan. Rào cản đã lan rộng sang quy tắc xuất xứ, hiện tượng chuyển tải, trung chuyển, các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe và yêu cầu minh bạch về truy xuất nguồn gốc.
Đồng tình với nhận định về rủi ro chính sách, ông An Thế Dũng, Nguyên Tham tán Thương mại Việt Nam tại Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, cho rằng kim ngạch thương mại hai nước đã tăng nhanh chóng minh chứng cho sự trưởng thành và bản lĩnh tự tin đàm phán của doanh nghiệp Việt.
Tuy nhiên, để đứng vững tại thị trường tiêu dùng khổng lồ trị giá 20.000 tỷ USD này, ông Dũng khuyến nghị doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý những điểm then chốt. Trước hết là quản trị rủi ro chính sách và pháp lý. Doanh nghiệp phải hiểu rõ hệ thống luật pháp sở tại và hạn chế tối đa việc kéo nhau ra tòa án Hoa Kỳ, bởi chi phí theo kiện vô cùng đắt đỏ, trong đó tìm kiếm giải pháp dung hòa luôn là phương án tối ưu.
Bên cạnh đó, chất lượng sản phẩm cùng tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm phải luôn được đặt lên hàng đầu. Doanh nghiệp cũng cần chủ động thích ứng với tập quán kinh doanh của người Hoa Kỳ. Các đối tác Hoa Kỳ thường e ngại phương thức thanh toán L/C (Thư tín dụng) do chi phí cao và bị ngân hàng siết hạn mức tín dụng. Vì vậy, việc linh hoạt áp dụng các phương thức thanh toán an toàn khác cho các đơn hàng vừa và nhỏ là điều rất cần thiết.
Cuối cùng và quan trọng nhất chính là việc tạo dựng lòng tin chiến lược. Khi đối mặt với các vụ kiện phòng vệ hay rào cản xuất xứ, chính các doanh nghiệp đối tác tại Hoa Kỳ sẽ là lực lượng đứng ra bảo vệ hàng hóa Việt Nam nếu chúng ta xây dựng được uy tín và sự minh bạch.
Chia sẻ về cách thức vượt qua rào cản, ông Dũng nhấn mạnh thay vì thụ động hứng chịu, nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đã rất chủ động. Họ đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, tự động hóa bằng cảm biến và robot để cắt giảm tối đa chi phí sản xuất đầu vào, từ đó bù đắp cho các khoản thuế tăng thêm.
HIỂU RÕ THỊ TRƯỜNG, TĂNG GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU
Để xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ bền vững, ông Hải cho rằng định hướng của Chính phủ cũng như bài toán của doanh nghiệp không nằm ở việc gia tăng khối lượng, mà phải tập trung gia tăng giá trị xuất khẩu.
Trước đây, chúng ta nói nhiều đến các sản phẩm "Made in Vietnam", tức là đạt được các yêu cầu về gia công, chế biến hoặc chuyển đổi các mã số hàng hóa tại Việt Nam. Nhưng ở giai đoạn này, yêu cầu cao hơn đó là nâng cao giá trị của các sản phẩm Việt Nam. Khi nâng cao giá trị, sản phẩm sẽ đạt được tiêu chí sản xuất tại Việt Nam.
“Trong quá trình sản xuất, phải làm chủ được công nghệ, tiến vào những điểm then chốt trong chuỗi cung ứng như bán dẫn, AI, năng lượng, kinh tế số cũng như dịch vụ logistics. Đây là những mục tiêu đặt ra trong việc vừa cân bằng cán cân thương mại với Hoa Kỳ, vừa thúc đẩy hội nhập của Việt Nam với thế giới”, ông Hải nhấn mạnh.
Cùng với đó là tăng cường nhập khẩu và hợp tác với Hoa Kỳ. Ngoài những nguyên liệu thô như thức ăn chăn nuôi, bông, gỗ…, Hoa Kỳ cũng là một thị trường có những sản phẩm công nghệ cao mà chúng ta hoàn toàn có thể nhập khẩu thay thế.
“Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn khi mở rộng nhập khẩu các mặt hàng công nghệ cao, thiết bị hàng không như tàu bay Boeing, năng lượng sạch LNG và công nghệ hạt nhân dân dụng từ Hoa Kỳ. Việc nhập khẩu công nghệ và nguyên liệu từ Hoa Kỳ, sau đó chế biến và sản xuất tại Việt Nam sẽ giúp tạo ra những sản phẩm mang thương hiệu Việt nhưng chứa đựng giá trị toàn cầu”, ông Hải lưu ý.
Cụ thể với doanh nghiệp, ông Hải cho rằng doanh nghiệp xuất khẩu cần tìm hiểu chính sách của Hoa Kỳ, bởi đây là một thị trường hết sức đặc biệt và có rất nhiều quy định chứ không hề đơn giản. Chúng ta phải xác định: để làm ăn với Hoa Kỳ, phải hiểu rõ chính sách của thị trường này.
Đồng thời, kiểm soát xuất xứ của hàng hóa, minh bạch chuỗi cung ứng, đa dạng hóa nguồn nguyên liệu. Trong quá trình sản xuất hàng hóa, phải lưu giữ các hồ sơ đảm bảo minh bạch và có thể truy xuất lại được, để đảm bảo không bị áp dụng các loại thuế gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Ngoài ra, cần đáp ứng các tiêu chuẩn xanh; xây dựng thương hiệu Việt; tìm kiếm đối tác.
Từ góc độ định hướng dài hạn, bà Hoàng Diệp Trúc, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư Citizen Pathway, cho rằng doanh nghiệp cần tính đến bước đi xa hơn là tạo sự hiện diện trực tiếp tại thị trường sở tại. Doanh nghiệp có thể chủ động thành lập pháp nhân, mở văn phòng, chi nhánh hoặc mua lại các doanh nghiệp đang hoạt động tại Hoa Kỳ để tiếp quản thương hiệu và kênh phân phối.
Việc xây dựng một lộ trình dài hạn từ 3 đến 5 năm cùng sự chuẩn bị trước 12 tháng sẽ giúp doanh nghiệp chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy gia công “Made in Vietnam” sang chủ động nâng cao giá trị thương hiệu "Made by Vietnam Value".
Đối với nguồn lực hạn chế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đại diện Hiệp hội Dừa Việt Nam khuyến nghị các đơn vị nhỏ không nên đơn độc "chiến đấu" với các rào cản pháp lý. Việc hội tụ dưới một mái nhà chung như các hiệp hội ngành hàng hay cộng đồng xuất khẩu sẽ giúp chia sẻ chi phí tư vấn, cập nhật thông tin chính sách và quan trọng nhất là gia tăng sức mạnh đàm phán để bảo vệ lợi ích chung trên trường quốc tế.
Việc tái cấu trúc không gian công nghiệp sau hợp nhất đang mở ra dư địa lớn để TP. Hồ Chí Minh thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới, đặc biệt vào các ngành công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, logistics và năng lượng...
Việc ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Dầu khí nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm các cơ quan, địa phương và nhà thầu; phân công cụ thể công việc, tiến độ, bảo đảm thi hành Luật kịp thời, đồng bộ, thống nhất và hiệu quả…
Chính phủ vừa ban hành quy định mới về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo với nhiều điểm mới như bắt buộc thông báo kế hoạch nhập khẩu, siết chặt điều kiện kho bãi, cơ sở xay xát và nhận ủy thác. Đáng chú ý, doanh nghiệp xuất khẩu gạo hữu cơ, gạo vi chất được miễn giấy chứng nhận…
Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc chỉ đạo ngành nông, lâm, thủy sản chuyển mạnh sang chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và nâng cao chất lượng. Đặc biệt, cần thay đổi tư duy sang nghiên cứu thị trường để tổ chức sản xuất, lấy doanh nghiệp làm trung tâm và quản trị bằng dữ liệu số...
Việt Nam đã ký kết 17 FTA, mở ra cánh cửa tiếp cận thị trường rộng lớn. Tuy nhiên, trước “luật chơi” quốc tế thay đổi nhanh chóng, doanh nghiệp xuất khẩu TP.Hồ Chí Minh không thể chỉ trông cậy vào ưu đãi thuế quan, mà buộc phải đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về xuất xứ, môi trường, lao động, an ninh chuỗi cung ứng và độ tin cậy…
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cảnh báo hơn 5,1 triệu lượt khách hàng; gần 1,7 triệu lượt đã tạm dừng hoặc hủy giao dịch sau cảnh báo, với tổng giá trị trên 5,7 nghìn tỷ đồng.