
Theo Lý lịch di sản văn hóa phi vật thể đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam, tên thường gọi của di sản văn hóa phi vật thể ở loại hình: Tri thức dân gian về khai thác, trồng và chế biến sâm Ngọc Linh ở huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam. Địa điểm phân bố của di sản trên địa bàn huyện Nam Trà My, với vùng trồng sâm Ngọc Linh ở các xã Trà Linh, Trà Nam, Trà Cang, Trà Tập, Trà Dơn, Trà Leng, Trà Don và Trà Vinh. Chủ thể văn hóa là cộng đồng cư dân thuộc các xã Trà Linh, Trà Cang, Trà Nam, Trà Dơn, Trà Tập, Trà Leng, Trà Don và Trà Mai.
TỪ PHÁT HIỆN LOẠI BIỆT DƯỢC TỰ NHIÊN TRÊN ĐỈNH NÚI
Sâm Ngọc Linh đã được đồng bào các dân tộc thiểu số Xê Đăng ở huyện Nam Trà My, Quảng Nam phát hiện từ rất lâu đời, gắn với tập quán đi rừng của bà con. Sâm Ngọc Linh mọc tự nhiên tại núi Ngọc Linh (Quảng Nam) từ độ cao 1.500m đến 2.100m, mọc thành đám dưới tán rừng già dọc theo các suối ẩm trên đất nhiều mùn, phân bố chủ yếu ở khu vực các thôn của xã Trà Linh, huyện Nam Trà My.
Theo ký ức của những người lớn tuổi và có kinh nghiệm nhiều năm trồng sâm ở địa phương, cho biết các thế hệ trước của họ đã phát hiện ra tác dụng của cây sâm trong những chuyến đi rừng đặt bẫy thú và được lưu truyền lại cho con cháu.
Ông Hồ Văn Rêu (sinh năm 1938, dân tộc Xơ Đăng, hiện ở thôn 2 xã Trà Linh, huyện Nam Trà My) cho biết từ khi ông còn nhỏ đã được người thân trong gia đình nói về tác dụng của cây sâm và chỉ dẫn cách sử dụng cây sâm vào những trường hợp cụ thể.
Lúc bấy giờ khi người dân đi vào rừng làm rẫy, mỗi khi tay chân bị thương chảy máu, họ đào lấy củ sâm nhai và đắp lên vết thương thấy cầm máu rất nhanh và vết thương nhanh lành; khi bị đau bụng thì ăn củ sâm thấy hết đau ngay; khi mệt mỏi nhai củ sâm thì thấy khỏe nhanh, có khi ăn 1 củ cả ngày vẫn không thấy đói,...
Vì thế, người dân nơi đây đã đặt cái tên dân dã là “cây thuốc quý”. Khi phát hiện cây sâm trên đường đi bẫy thú, họ phát quang một khoảnh nhỏ để cho cây phát triển tốt, đồng thời đánh dấu để biết khu vực đó có “cây thuốc quý” khi cần thì sử dụng.
Lúc ban đầu, những ai biết được tác dụng của cây sâm đều tự giữ riêng bí mật cho mình, kể cả bí mật về tác dụng của cây sâm và bí mật nơi có cây sâm trong rừng.
Từ đó lúc nào người dân cũng có sâm mang theo làm vị thuốc “hộ thân” để dùng cho mọi trường hợp cần thiết nên gọi là “thuốc giấu” với hàm nghĩa “giấu” thuốc quý…
Trong tri thức dân gian về khai thác, trồng và chế biến sâm Ngọc Linh (dân gian gọi là cây "thuốc giấu") với đồng bào các dân tộc thiểu số, đây được coi là một loại thần dược có tác dụng chữa bệnh và bồi bổ sức khỏe rất tốt. Đây là tri thức dân gian có giá trị lịch sử, văn hóa đặc sắc gắn liền với nền nông nghiệp nương rẫy và kinh tế rừng. Điều này cũng minh chứng cho sự gắn bó, gần gũi và hòa hợp với môi trường thiên nhiên của cộng đồng cư dân nơi đây.
ĐẾN NÂNG TẦM GIÁ TRỊ LÀ “QUỐC BẢO”
Qua nhiều cuộc hội thảo, điền dã, các nhà khoa học đã khẳng định Sâm Ngọc Linh là loại dược liệu quý hiếm của Việt Nam, với nhiều giá trị dinh dưỡng vượt trội. Và được mệnh danh là “quốc bảo” của Việt Nam, giống sâm này có nhiều tiềm năng để thúc đẩy sự phát triển của ngành dược liệu nước ta. Các địa phương có ưu thế về trồng cây sâm Ngọc Linh đang xây dựng kế hoạch dài hạn nhằm phát triển loại dược liệu này, từ đó giúp nâng cao giá trị của “quốc bảo”, góp phần phát triển kinh tế.
Việc tiếp cận, nhân giống, trồng và chế biến sâm Ngọc Linh đã và đang mang lại giá trị kinh tế rất cao, cho thấy sự thay đổi, phát triển về tập quán sản xuất từ khai thác, hái lượm sang sản xuất tập trung, đầu tư thâm canh chuyên sâu, nhờ đó một bộ phận người dân huyện Nam Trà My thoát nghèo bền vững.
Qua quá trình thực hành di sản, cộng đồng địa phương đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm quý báu hình thành nên hệ thống tri thức dân gian về sâm Ngọc Linh khá hoàn chỉnh. Vì vậy, tri thức dân gian khai thác, trồng và chế biến sâm Ngọc Linh của đồng bào các dân tộc thiểu số ở huyện Nam Trà My có thể xem là kho tàng quý giá, vừa mang giá trị văn hóa, vừa có ý nghĩa to lớn về phát triển kinh tế - xã hội.
Từ khi được quan tâm đầu tư đúng mức, “quốc bảo” dược liệu sâm Ngọc Linh đang trở thành mặt hàng chủ lực, góp phần phát triển kinh tế ở các địa phương vùng trồng. Hiện nay, tại phiên chợ Sâm Ngọc Linh Quảng Nam được tổ chức hằng năm, bà con và các doanh nghiệp chủ yếu bày bán các sản phẩm như Sâm củ tươi, Sâm Ngọc Linh ngâm mật ong, rượu Sâm Ngọc Linh.
Trong đó chủ yếu là sâm củ tươi với các mức giá khác nhau tùy theo phân loại chất lượng, loại 1 (khoảng 10 củ/kg) có giá 120 triệu đ/kg; loại 2 (khoảng 20 củ/kg) có giá 80 triệu đ/kg; loại 3 (khoảng 30 củ/kg) có giá 70 triệu đ/kg; loại 4 có giá 60 triệu đ/kg; loại 5 có giá 50 triệu đ/kg…
Vùng trồng sâm ở huyện Nam Trà My ngày càng được mở rộng, đồng bào Xơ Đăng sinh sống nơi dãy núi Ngọc Linh ngoài việc được chính quyền địa phương hỗ trợ sâm giống để phát triển kinh tế hộ gia đình, nhiều bà con còn tham gia làm công cho các doanh nghiệp trồng và chăm sóc sâm. Nhờ đó, việc làm của đồng bào ở Nam Trà My ngày càng ổn định, thu nhập khá, nhiều hộ đã thoát nghèo, đổi đời vươn lên làm giàu từ Sâm Ngọc Linh.
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ, BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN SÂM NGỌC LINH
Bên cạnh giá trị kinh tế và môi trường cùng những tiềm năng to lớn từ cây sâm mang lại thì việc bảo tồn và phát huy tri thức dân gian nghề nghiệp trong việc khai thác, trồng, chế biến sâm Ngọc Linh cũng được bảo tồn, gìn giữ.
Để phát triển mạnh cây Sâm Ngọc Linh nói riêng và các loại cây dược liệu nói chung, tỉnh Quảng Nam đang đẩy mạnh triển khai đề án “Phát triển và hình thành Trung tâm công nghiệp dược liệu, với sâm Ngọc Linh là cây chủ lực”, là tiền đề thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước trong việc trồng, chế biến Sâm Ngọc Linh ở Quảng Nam.
Tỉnh ủy Quảng Nam cũng đã ban hành hành Nghị quyết số 40-NQ/TU ngày 18/11/2024 về tăng cường công tác quản lý, bảo tồn và phát triển Sâm Ngọc Linh trên địa bàn tỉnh đến năm 2030, định hướng đến năm 2035...
Theo Nghị quyết này, Quảng Nam đặt mục tiêu là bảo tồn, xây dựng và phát triển Sâm Ngọc Linh trở thành ngành hàng hóa có giá trị kinh tế cao, là sản phẩm chủ lực của tỉnh, mang thương hiệu sản phẩm quốc gia, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập, phát triển đời sống kinh tế - xã hội cho người dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi; gắn việc bảo tồn, phát triển Sâm Ngọc Linh với quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững, phát huy bản sắc văn hóa địa phương, đảm bảo quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh. Bước đầu Quảng Nam hình thành công nghiệp dược liệu với Sâm Ngọc Linh là sản phẩm chủ lực trên địa bàn tỉnh nói riêng và khu vực miền Trung nói chung.
Đến năm 2030, Quảng Nam phát triển vùng sản xuất và cung ứng nguyên liệu Sâm Ngọc Linh ở huyện Nam Trà My và các vùng di thực khác trên địa bàn của tỉnh với tổng diện tích 8.400ha để cung cấp nguồn nguyên liệu cho Trung tâm công nghiệp dược liệu và phục vụ cho chế biến, tiêu thụ trong và ngoài tỉnh. Tổng sản lượng Sâm Ngọc Linh đạt khoảng 100 tấn Sâm củ từ 05 năm tuổi trở lên/năm (diện tích khai thác khoảng 300 - 350 ha/năm).
Cùng với đó là xây dựng các khu bảo tồn nguyên vị (in-situ) và vườn sưu tập (ex-situ) nguồn gen cây Sâm Ngọc Linh tại các vùng sinh thái điển hình này. Nâng cấp 02 khu vực bảo tồn nguồn giống gốc Sâm Ngọc Linh tại Trạm Dược liệu Trà Linh và Trại Sâm Tắk-Ngo có quy mô sản xuất đạt từ 300.000 - 500.000 cây giống/năm để sản xuất, cung ứng nguồn cây giống đảm bảo về số lượng và đạt tiêu chuẩn theo quy định.
Quảng Nam cũng hình thành từ 30 - 50 vườn Sâm Ngọc Linh có quy mô lớn cho hộ gia đình và doanh nghiệp; sản xuất từ mỗi năm từ 5 - 10 triệu cây giống Sâm Ngọc Linh 1 năm tuổi, kể cả nguồn cây giống do 2 đơn vị bảo tồn sản xuất; Tổ chức sản xuất hướng theo tiêu chuẩn của GACP-WHO (khoảng 15 - 30% diện tích sản xuất được chứng nhận GACP-WHO).
Đến năm 2035, tỉnh Quảng Nam duy trì, phát triển diện tích trồng Sâm Ngọc Linh đạt 10.000ha, tạo vùng nguyên liệu ổn định phục vụ công tác chế biến và cung cấp nguồn nguyên liệu cho Trung tâm công nghiệp dược liệu; đưa Quảng Nam trở thành Trung tâm sản xuất, cung ứng cây giống Sâm Ngọc Linh; ổn định vùng nguyên liệu Sâm Ngọc Linh, tổ chức sản xuất hướng theo tiêu chuẩn GACP-WHO (khoảng 35 - 40% diện tích sản xuất được chứng nhận GACP-WHO).
Sau một thời gian đưa vào vận hành, hệ thống kiosk check-in sinh trắc học tại Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài ghi nhận khoảng 3.000-4.000 lượt hành khách sử dụng mỗi ngày, góp phần rút ngắn thời gian làm thủ tục và giảm áp lực tại các khung giờ cao điểm...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng thống nhất phương án trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Khu công nghệ cao Hưng Yên, đồng thời giao UBND tỉnh Hưng Yên ban hành Quy chế hoạt động của khu nhằm bảo đảm đúng quy định pháp luật và đẩy nhanh tiến độ triển khai...
Sáng 31/7, Hội nghị Châu Á của Hiệp hội Kinh tế lượng khu vực Đông Á và Đông Nam Á năm 2026 (AMES 2026) khai mạc tại Hà Nội. Sự kiện do Hiệp hội Kinh tế lượng (Econometric Society), AVSE Global và Trường Đại học Thương mại phối hợp tổ chức...
Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa ban hành Nghị quyết số 09/2026/UBTVQH16 quy định quy chế lập, thẩm tra, quyết định kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia, kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách nhà nước, dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước hằng năm...
Khu kinh tế ven biển phía Nam với trọng tâm Khu thương mại tự do sẽ là động lực tăng trưởng kinh tế chủ đạo của Hải Phòng…
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.