Bộ Nội vụ phản
hồi ý kiến của người lao động liên quan đến việc chi trả trợ cấp thôi việc cho
thời gian thử việc. Đây là trường hợp trong hợp đồng thỏa thuận tiền lương bao
gồm các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,... tính
trong lương.
Bộ Nội vụ cho
biết theo quy định tại Luật Việc làm, người lao động ký hợp đồng thử việc không thuộc đối tượng
tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Tuy nhiên, nếu
điều khoản thử việc được quy định trong hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 1
tháng trở lên, thì thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Luật cũng quy định thời gian người lao động đóng bảo
hiểm thất nghiệp không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm, hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định
của pháp luật về lao động, pháp luật về viên chức.
Bên cạnh đó, Bộ luật Lao động 2019 cũng quy định khi hợp đồng lao động chấm dứt, thì người sử dụng lao động có trách
nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho
mình từ đủ 12 tháng trở lên.
Mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa
tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của
pháp luật về bảo hiểm xã hội, và trường hợp quy định tại Bộ luật Lao động.
Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời
gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động, trừ đi thời gian người lao động đã
tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp, và thời gian làm việc đã được người sử
dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
Như vậy, thời gian người lao động làm việc theo hợp đồng
thử việc được tính là thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc.
Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời
gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời
gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật
về bảo hiểm thất nghiệp, và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp
thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo các quy định nêu trên.