Hoàn thiện thể chế, tạo lợi thế cạnh tranh cho ngành năng lượng

Nhu cầu năng lượng tăng nhanh và những biến động mới của thị trường toàn cầu đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện thể chế, phát triển thị trường và tạo động lực thu hút nguồn lực đầu tư...

Ông Đào Quang Bính, Tổng Thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Biên tập Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy phát biểu khai mạc - Ảnh: Việt Dũng
Ông Đào Quang Bính, Tổng Thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Biên tập Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy phát biểu khai mạc - Ảnh: Việt Dũng

Ngày 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy/Vietnam Economic Times tổ chức Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”, với sự tham gia của các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và tổ chức trong nước, quốc tế để đánh giá những thay đổi của thị trường năng lượng, nhận diện điểm nghẽn và thảo luận giải pháp chính sách cho giai đoạn phát triển mới.

NĂNG LƯỢNG AN TOÀN, ỔN ĐỊNH THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG NHANH, BỀN VỮNG 

Phát biểu khai mạc, ông Đào Quang Bính, Tổng Thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Biên tập Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, nhấn mạnh năng lượng không còn là câu chuyện riêng của một ngành kinh tế mà đã trở thành một vấn đề chiến lược quyết định năng lực cạnh tranh và triển vọng phát triển của mỗi quốc gia.

Theo Tổng Thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, bán dẫn và các ngành công nghiệp công nghệ cao đang làm thay đổi cấu trúc tiêu thụ năng lượng toàn cầu. Cùng với đó, cam kết phát thải ròng bằng 0, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng và những biến động địa chính trị đang thúc đẩy quá trình tái cấu trúc thị trường năng lượng.

Trong bối cảnh đó, cạnh tranh giữa các quốc gia không chỉ là cạnh tranh về công nghệ, vốn hay tài nguyên mà trước hết còn là cạnh tranh về chất lượng thể chế và môi trường đầu tư. Một khuôn khổ pháp lý minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo và khuyến khích đổi mới có thể tạo lợi thế trong thu hút vốn, công nghệ và các dự án năng lượng quy mô lớn. Ngược lại, lợi thế về tài nguyên hay vị trí địa kinh tế khó chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh nếu thể chế chậm đổi mới.

Ông Đào Quang Bính, Tổng Thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Biên tập Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy phát biểu tại Diễn đàn. Ảnh: Việt Dũng
Ông Đào Quang Bính, Tổng Thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Biên tập Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy phát biểu tại Diễn đàn. Ảnh: Việt Dũng

Từ góc nhìn này, ông Đào Quang Bính cho rằng năng lượng phải đi trước một bước để tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Việc sửa đổi Luật Dầu khí cùng các cơ chế, chính sách liên quan là bước đi nhằm tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch hơn. Tuy nhiên, đây mới chỉ là điểm khởi đầu. Việt Nam cần xây dựng một hệ thống thể chế hiện đại, đồng bộ và có tính cạnh tranh quốc tế cho toàn bộ ngành năng lượng, đủ khả năng thích ứng với công nghệ mới và mở đường cho điện hạt nhân, hydrogen, lưu trữ năng lượng, thu giữ và lưu trữ carbon.

CẢI CÁCH THỂ CHẾ ĐỂ NÂNG SỨC CẠNH TRANH

Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, cho biết Luật Dầu khí sửa đổi sẽ được Quốc hội xem xét thông qua sắp tới, với mục tiêu trọng tâm là cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đầu tư vào ngành dầu khí, thúc đẩy ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam phát triển.

Ông Hiếu nhấn mạnh sự cần thiết sửa đổi Luật Dầu khí xuất phát từ những thay đổi mạnh mẽ cả trong bối cảnh quốc tế và trong nước, đặc biệt là yêu cầu thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mới theo hướng tăng trưởng nhanh, mạnh mẽ và bền vững. Trong đó, năng lượng giữ vai trò then chốt, hoạt động dầu khí là một cấu phần quan trọng, đồng thời gắn với chiến lược phát triển kinh tế biển và yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia.

Việc sửa đổi luật cũng nhằm cập nhật những thay đổi về thể chế được đặt ra trong các nghị quyết và luật mới. Theo ông Hiếu, Nghị quyết số 20-NQ/TW về phát triển kinh tế biển, Nghị quyết số 79-NQ/TW về kinh tế nhà nước và Luật số 68/2025/QH15 về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp đã tạo ra những thay đổi đáng kể về phân cấp, phân quyền và nguyên tắc quản lý. Trong khi đó, Luật Dầu khí năm 2022 chưa kịp cập nhật đầy đủ những thay đổi này.

"Bởi vậy, lần sửa đổi này không đơn thuần là điều chỉnh một số quy định để xử lý những vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Luật Dầu khí năm 2022. Điểm được nhấn mạnh là yêu cầu cải cách thể chế, qua đó biến thể chế thành một lợi thế cạnh tranh của quốc gia", ông Hiếu cho hay.

Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, phát biểu tại Diễn đàn. Ảnh: Việt Dũng.
Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, phát biểu tại Diễn đàn. Ảnh: Việt Dũng.

Với cách tiếp cận này, yêu cầu đặt ra là thể chế phải đi trước, có khả năng hoàn thiện nhanh chóng khi xuất hiện những vấn đề mới trong thực tiễn, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư và thu hút hoạt động dầu khí.

Chính phủ đã đề xuất tập trung vào 5 nhóm chính sách trọng tâm trong lần sửa đổi Luật Dầu khí, gồm hoàn thiện, đơn giản hóa thủ tục và tăng cường phân cấp, phân quyền; hoàn thiện quy định về hợp đồng dầu khí và những vấn đề đặc thù phát sinh trong thực tế; hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư; phát triển chuỗi giá trị dầu khí, dịch vụ kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi; xây dựng khung cho giảm phát thải khí nhà kính, thu giữ và lưu trữ carbon trong hoạt động dầu khí.

PHẢI CÓ THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH

Từ câu chuyện cải cách Luật Dầu khí, TS. Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam, mở rộng vấn đề sang yêu cầu tái cấu trúc toàn bộ thị trường năng lượng.

Theo TS. Nguyễn Hùng Dũng, trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số, yêu cầu đối với ngành năng lượng không còn chỉ là bảo đảm đủ điện, đủ nhiên liệu cho sản xuất và đời sống. Ngành năng lượng phải xây dựng được một thị trường hiện đại, cạnh tranh, có khả năng thích ứng với quá trình chuyển dịch năng lượng toàn cầu và đáp ứng các cam kết giảm phát thải khí nhà kính. Đây đồng thời là cơ hội tái cấu trúc ngành năng lượng và phép thử đối với năng lực hoạch định chính sách, tổ chức thực thi.

Từ thực tiễn triển khai, TS. Nguyễn Hùng Dũng nhận diện một số nhóm điểm nghẽn lớn. Trước hết là sự thiếu đồng bộ của hệ thống chính sách. Các dự án năng lượng có thể đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều luật, trong khi một số cơ chế nền tảng cho đầu tư vẫn cần tiếp tục hoàn thiện. Những vấn đề như phương pháp xác định giá điện, hợp đồng mua bán điện, chia sẻ rủi ro hay bảo lãnh thanh toán có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng huy động vốn, đặc biệt với những dự án có quy mô lớn và thời gian hoàn vốn dài.

TS. Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam, trình bày tham luận tại Diễn đàn. Ảnh: Việt Dũng.
TS. Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam, trình bày tham luận tại Diễn đàn. Ảnh: Việt Dũng.

Điểm nghẽn thứ hai nằm ở mức độ phát triển của thị trường năng lượng. Thị trường điện cạnh tranh chưa phát triển đầy đủ, trong khi thị trường khí và LNG còn thiếu những cơ chế đủ rõ để tạo nền tảng cho các khoản đầu tư dài hạn. Với các dự án LNG, bài toán không chỉ là có nguồn khí mà còn liên quan đến giá nhiên liệu, hợp đồng mua bán điện, hạ tầng cảng, kho chứa và khả năng tiêu thụ điện.

Điểm nghẽn thứ ba là sự phát triển chưa đồng bộ giữa nguồn và hạ tầng truyền tải. Việc bổ sung nguồn điện nếu không đi cùng năng lực truyền tải và điều độ sẽ hạn chế khả năng khai thác công suất, đồng thời ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư. Trong khi đó, các lĩnh vực năng lượng mới như hydrogen, thu giữ và lưu trữ carbon, nhiên liệu hàng không bền vững hay lưu trữ năng lượng đang hình thành nhưng chưa có đầy đủ khung chính sách để doanh nghiệp xác định mô hình đầu tư và hiệu quả kinh tế.

Từ những vấn đề này, TS. Nguyễn Hùng Dũng đề xuất ba nhóm giải pháp lớn. Một là hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, ổn định và có tính dự báo. Hai là phát triển đầy đủ thị trường năng lượng cạnh tranh. Ba là xây dựng hệ sinh thái công nghiệp năng lượng đồng bộ, không chỉ gồm nguồn điện và hạ tầng truyền tải mà còn bao gồm công nghiệp chế tạo thiết bị, chuỗi cung ứng, lưu trữ và nguồn nhân lực.

THU HÚT VỐN VÀO CÁC DỰ ÁN KHÓ

Từ góc nhìn của Nhóm nghiên cứu chiến lược Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Bùi Trọng Thoan đặt thị trường năng lượng Việt Nam trong sự thay đổi của bản đồ quyền lực dầu - khí toàn cầu, với trọng tâm chuyển từ quyền sở hữu tài nguyên sang quyền kiểm soát dòng chảy, giá cả, hạ tầng và lựa chọn chiến lược.

Theo tham luận, bản đồ dầu - khí toàn cầu đang được tái định hình bởi 4 lực đẩy gồm địa chính trị, điện hóa, LNG hóa thị trường khí và an ninh chuỗi cung ứng.

Trong đó, xung đột, trừng phạt và phân mảnh địa chính trị làm thay đổi các tuyến cung ứng; điện hóa khiến hệ thống năng lượng ngày càng cần độ tin cậy, nhiên liệu có khả năng điều độ và công suất dự phòng; LNG mở khả năng dịch chuyển nguồn khí giữa các thị trường nhưng đồng thời tạo sự phụ thuộc vào tàu, cảng, kho và hợp đồng. Trong khi đó, kho, tàu, bảo hiểm, tín dụng và an ninh hạ tầng ngày càng trở thành những tài sản chiến lược.

Từ đó, an ninh năng lượng không chỉ là câu chuyện có đủ công suất nguồn mà còn phải bảo đảm khả năng đưa năng lượng đến đúng nơi, đúng thời điểm khi thị trường biến động. Với Việt Nam, các điểm dễ tổn thương tập trung ở những tuyến cung ứng dầu khí quốc tế, chuỗi LNG cho phát điện và các yếu tố gắn với hạ tầng, tài chính, tỷ giá.

Theo hướng tiếp cận này, năng lực chống chịu cần trở thành một thành tố của chính sách năng lượng, thông qua đa dạng hóa nguồn cung, tuyến vận tải, dự trữ, công suất dự phòng và mạng lưới đối tác.

Các đại biểu tham dự tại Diễn đàn. Ảnh: Việt Dũng
Các đại biểu tham dự tại Diễn đàn. Ảnh: Việt Dũng

Ở góc độ triển khai cụ thể, ông Đoàn Văn Thuần, Viện Dầu khí Việt Nam, tập trung vào những lợi ích kỳ vọng từ việc ban hành Luật Dầu khí sửa đổi. Theo đó, luật mới được kỳ vọng tạo môi trường đầu tư thông thoáng, ổn định và cạnh tranh hơn cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí; tăng khả năng thu hút đầu tư vào các lô dầu khí có điều kiện địa chất phức tạp, vùng nước sâu, xa bờ và các dự án dầu khí phi truyền thống. Chính sách mới đồng thời được kỳ vọng thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị dầu khí, công nghiệp năng lượng và các ngành công nghiệp hỗ trợ, qua đó tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước trong trung và dài hạn.

Đáng chú ý, dự thảo luật bổ sung các chính sách ưu đãi đối với mỏ dầu khí cận biên và hoạt động nâng cao hệ số thu hồi dầu khí (EOR). Với mỏ cận biên, cơ chế đề xuất cho phép hưởng chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt, trong đó nhà thầu được sử dụng toàn bộ phần dầu khí được chia để thu hồi chi phí theo điều kiện nêu trong dự thảo; sau khi thu hồi hết chi phí và hoàn thành nghĩa vụ thuế, nhà thầu được hưởng toàn bộ phần dầu khí lãi còn lại. Đồng thời, tỷ lệ thu hồi chi phí có thể được cộng thêm không quá 10% so với hợp đồng thông thường hoặc hợp đồng đang hưởng ưu đãi hiện hành.

Đối với hoạt động EOR, ưu đãi được đề xuất gồm tăng giới hạn thu hồi chi phí không quá 10% so với mức thu hồi chi phí của hợp đồng dầu khí hiện hữu để thu hồi chi phí EOR, áp dụng từ khi FDP điều chỉnh được phê duyệt đến khi thu hồi hết chi phí EOR. Dự thảo cũng cho phép gia hạn hợp đồng dầu khí tối đa không quá 5 năm để bảo đảm hiệu quả kinh tế cho dự án.

Cùng với các chính sách ưu đãi, dự thảo đẩy mạnh phân cấp thẩm quyền cho Petrovietnam. Đối với mỏ cận biên, Petrovietnam được giao trực tiếp phê duyệt danh mục mỏ dầu khí cận biên và mỏ tiếp tục duy trì khai thác; đồng thời thẩm định, phê duyệt kế hoạch phát triển mỏ và ký phụ lục hợp đồng dầu khí với nhà thầu. Đối với EOR, nhà thầu lập FDP điều chỉnh và trình Petrovietnam thẩm định, phê duyệt.

Viện Dầu khí Việt Nam kiến nghị sớm ban hành Nghị định hướng dẫn chi tiết về trình tự, thủ tục thẩm định, phê duyệt đối với phát triển mỏ dầu khí cận biên và nâng cao hệ số thu hồi dầu, tạo cơ sở để nhà thầu áp dụng.

TP.Hồ Chí Minh đặt mục tiêu giải ngân đầu tư công đạt tỷ lệ 70% vào cuối quý 3

Đến hết ngày 29/7/2026, TP.Hồ Chí Minh đã giải ngân 60.750,061 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 41,2% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao. Thành phố đặt mục tiêu nâng tỷ lệ này lên 70% vào cuối quý III và hoàn thành 100% kế hoạch vốn trong năm 2026, đồng thời gắn kết quả giải ngân với trách nhiệm của người đứng đầu từng cơ quan, đơn vị...

Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đang trải qua tuần làm việc đầu tiên. Hàng loạt các dự án Luật, dự thảo Luật quan trọng được các đại biểu Quốc hội tập trung thảo luận. Trong đó có dự án Nghị quyết nhằm bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy