
Tại "Hội thảo xúc tiến thương mại sang thị trường Canada", bà Jasmin Wahhab, Trưởng bộ phận Thương mại, Tổng lãnh sự quán Canada tại TP.HCM, nhận định quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Canada đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt sau khi Việt Nam tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
CPTPP đã thúc đẩy hợp tác thương mại song phương, thông qua các cam kết về cắt giảm thuế quan, mở cửa thị trường và cải cách thủ tục. Nhiều ngành hàng xuất khẩu chủ lực của hai bên có thêm cơ hội tiếp cận thị trường đối tác, góp phần thúc đẩy tăng trưởng xuất nhập khẩu theo hướng thực chất và bền vững.
Tham tán thương mại Việt Nam tại Canada, bà Trần Thu Quỳnh cho biết Canada là một trong những thị trường tiềm năng hàng đầu với nền kinh tế mở, nhu cầu đa dạng về hàng hóa, sở hữu sức mua lớn và hệ thống tiêu chuẩn cao, đóng vai trò là cửa ngõ quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận sâu hơn chuỗi cung ứng khu vực Bắc Mỹ.
Hiện Canada là nước nhập khẩu lớn thứ 11 trên thế giới với giá trị nhập khẩu khoảng 310 tỷ USD các mặt hàng như: Thiết bị điện tử, sắt thép, thực phẩm, hàng tiêu dùng...
Những năm gần đây, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Canada không ngừng được mở rộng cả về quy mô lẫn chiều sâu. Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ 7 của Canada và đứng đầu trong số các nước ASEAN, chiếm gần 45% tổng kim ngạch Canada nhập khẩu từ khu vực.
Năm 2024, kim ngạch thương mại song phương đạt khoảng 7,2 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang Canada hơn 6,3 tỷ USD và nhập khẩu từ Canada gần 0,8 tỷ USD.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam gồm dệt may, giày dép, gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản, cà phê, linh kiện điện tử, máy móc thiết bị… đều được người tiêu dùng Canada đánh giá cao về chất lượng và giá cả cạnh tranh. Ngược lại, Canada là nguồn cung đáng tin cậy các sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao, thực phẩm chế biến, phân bón và nguyên liệu công nghiệp sản xuất.
Bên cạnh những kết quả tích cực, ông Hoàng Minh Chiến, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), cho rằng hoạt động thương mại vẫn tồn tại một số vấn đề. Thay vì xuất khẩu trực tiếp, một phần đáng kể khoảng 4 tỷ USD trong tổng kim ngạch hàng hóa Việt Nam vào thị trường Canada thông qua các kênh phân phối trung gian đặt tại Hoa Kỳ.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, theo ông Chiến chủ yếu là do đặc điểm vận hành của chuỗi cung ứng khu vực Bắc Mỹ, nơi nhiều tập đoàn bán lẻ lớn như Walmart, Costco, Amazon, Wayfair... đặt trung tâm logistics tại Hoa Kỳ để phục vụ cả thị trường Bắc Mỹ.
Mô hình phân phối này phần nào giúp hàng hóa Việt Nam tiếp cận thuận lợi hơn tới người tiêu dùng Canada nhờ tận dụng cơ sở hạ tầng và năng lực phân phối hiện đại.
Tuy nhiên, hình thức này cũng đồng thời đặt ra nhiều thách thức trong việc kiểm soát thị trường mục tiêu, nâng cao năng lực xây dựng thương hiệu quốc gia, cũng như tối ưu hoá giá trị gia tăng và phát triển xuất khẩu bền vững trong dài hạn.
Ngoài vấn đề kênh phân phối, sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam hiện vẫn đối mặt với một số hạn chế về năng lực chế biến sâu, nhận diện thương hiệu chưa được định vị rõ ràng và chất lượng chưa đồng đều.
"Điều này khiến nhiều nhóm hàng, đặc biệt là nông sản, thực phẩm, dù có sản lượng cao nhưng giá trị kim ngạch chưa tương xứng, phần lớn lợi nhuận vẫn bị chia sẻ qua các khâu trung gian", ông Chiến nói.
Ngoài ra, theo bà Quỳnh, các nhà xuất khẩu của Việt Nam còn ít quan tâm đến thị trường Canada bởi các yếu tố: Khoảng cách địa lý xa, yêu cầu cao về chất lượng, yêu cầu giá cả…
Bên cạnh đó, Canada là thị trường khá khắc nghiệt với ngành hàng nông sản và thực phẩm chế biến do nhiều đối thủ cạnh tranh có khả năng cung ứng tốt các sản phẩm cùng loại với mức giá cạnh tranh hơn.
Trước thực tế trên, bà Quỳnh nhấn mạnh cần thiết phải sử dụng hiệu quả hơn nữa Hiệp định CPTPP, vì tỷ lệ sử dụng ưu đãi thuế quan của hàng xuất khẩu Việt Nam sang Canada vẫn rất thấp, mới đạt 18%.
Với việc cơ cấu mặt hàng, nguyên liệu đầu vào của hai nước là bổ trợ chứ không cạnh tranh, bà Quỳnh cho rằng chuỗi sản xuất của hai nước có nhiều cơ hội để cùng hợp tác.
"Khai thác FTAs nói chung và CPTPP nói riêng không chỉ là khai thác các ưu đãi về thuế để nhằm thúc đẩy xuất khẩu ngắn hạn mà cả những cơ hội lớn hơn về kết nối sản xuất, đầu tư, công nghệ, thương hiệu giữa hai nước để tạo ra chuỗi giá trị cao hơn", bà Quỳnh chia sẻ.
Theo đó, khai thác FTAs không chỉ là thúc đẩy xuất khẩu mà chính là xây dựng một chiến lược công nghiệp dựa trên thế mạnh và sự bổ trợ giữa các đối tác FTAs có sự tương thích lớn như Canada và Việt Nam.
Ngoài sự kết nối thương mại, kết nối hàng hải giữa Việt Nam và Canada cũng là một triển vọng để hai nước có thể trở thành những mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng kết nối Đông Nam Á với Bờ Đông Bắc Mỹ, nâng cao vai trò của cả hai trong thương mại toàn cầu và tạo ra hoạt động kinh doanh mới cho lĩnh vực vận tải và hậu cần.
Để thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường Canada, bà Quỳnh khuyến nghị doanh nghiệp cần chủ động nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh, các xu hướng thị trường và các cơ hội ngành hàng. Chủ động khai thác các hình thức kinh doanh mới (thương mại điện tử, đấu giá trực tuyến…), tận dụng lợi thế của các FTA…
Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần quan tâm hơn nữa đến việc xây dựng website, chú trọng khâu bảo quản sau thu hoạch, thiết kế bao bì, hướng dẫn sử dụng và chỉ tiêu chất lượng sản phẩm bằng tiếng Anh (Halal, ISO, VietGap, GlobalGap…).
Theo ông Brian Staples, Giám đốc cơ quan Dịch vụ thương mại Canada, doanh nghiệp cần tận dụng các ưu đãi của Hiệp định CPTPP để tiếp cận thị trường Canada, tìm hiểu kỹ về chuỗi cung ứng, quy tắc xuất xứ… Khi đã có tất cả dữ liệu về nguồn cung ứng, doanh nghiệp có thể áp dụng quy tắc xuất xứ CPTPP phù hợp để xác định xem hàng hóa của bạn có xuất xứ hay không.
Dưới góc độ doanh nghiệp, bà Thạch Vũ Thùy Linh, Chủ tịch HĐQT Công ty Renso Foods, cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam cần tập hợp lại, cùng xây dựng, phát triển thương hiệu Việt Nam tại thị trường này. Bởi, sản phẩm từ nước xuất khẩu trong khu vực đang chiếm ưu thế với các sản phẩm thế mạnh của Việt Nam.
Đơn cử, trong các siêu thị lớn của Canada, sản phẩm phở “make in Thái Lan” đang xuất hiện rất nhiều, hay sản phẩm nước mắm “make in Hong Kong”, “make in Thái Lan” cũng chiếm ưu thế.
Bên cạnh đó, thị trường Canada rất nghiêm ngặt, đặc biệt khi nước này hỗ trợ y tế toàn dân nên càng kiểm soát chặt chẽ hơn các sản phẩm nhập khẩu. Vì thế, doanh nghiệp trước khi vào thị trường phải rà soát xem đã đáp ứng hay chưa đáp ứng những tiêu chí nào. Nếu cần thiết, các doanh nghiệp hợp tác xây dựng một chuỗi sản xuất, thay vì mỗi doanh nghiệp làm một sản phẩm cạnh tranh với nhau.




Thông tin từ Bộ Tài chính cho thấy, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI sáu tháng đạt 13,03 tỷ USD, đạt mức cao nhất sáu tháng đầu năm của các năm từ 2022 đến nay. Có ba yếu tố tích cực khiến nguồn vốn FDI tăng mạnh…
Bão số 1 đã suy yếu khi đi sâu vào đất liền Trung Quốc, tuy nhiên hoàn lưu sau bão tiếp tục gây mưa lớn trên diện rộng ở khu vực Bắc Bộ, làm gia tăng nguy cơ lũ trên các sông, ngập úng, lũ quét và sạt lở đất.
Trước nhu cầu điện dự báo tiếp tục tăng mạnh cùng tốc độ phát triển công nghiệp, Hà Tĩnh kiến nghị Bộ Công Thương xem xét bổ sung, điều chỉnh nhiều dự án nguồn và lưới điện trong Quy hoạch điện 8 điều chỉnh. Địa phương kỳ vọng việc hoàn thiện hạ tầng năng lượng sẽ tạo nền tảng thu hút đầu tư và bảo đảm an ninh năng lượng trong giai đoạn tới...
FDI không phải là mục tiêu của chính sách phát triển, mà là một trong nhiều nguồn lực phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Khi các nguồn lực quốc gia ngày càng hữu hạn, mọi chính sách ưu đãi, mọi quyết định phân bổ đất đai, hạ tầng, năng lượng hay dữ liệu đều cần hướng đến giá trị dài hạn mà nền kinh tế nhận được...
Sau gần 40 năm mở cửa, FDI vẫn là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, khi quy mô nền kinh tế đã thay đổi và các nguồn lực phát triển ngày càng tiệm cận giới hạn, câu hỏi đặt ra lúc này là đã đến lúc nhìn nhận đúng vai trò của FDI trong chiến lược phát triển quốc gia...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Thông tin từ Bộ Tài chính cho thấy, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI sáu tháng đạt 13,03 tỷ USD, đạt mức cao nhất sáu tháng đầu năm của các năm từ 2022 đến nay. Có ba yếu tố tích cực khiến nguồn vốn FDI tăng mạnh…