
Ngày 20/12/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định 151/2006/NĐ - CP về “Tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước”, trong đó có đề cập tới vấn đề cho nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu vay tiền.
Theo bà Nguyễn Thanh Sơn, trợ lý đầu tư LienVietBank, “tín dụng xuất khẩu hai chiều” được hiểu là cho doanh nghiệp trong nước vay tiền để tìm kiếm nguồn hàng xuất khẩu, đồng thời cho vay đối với nhà nhập khẩu nước ngoài mua hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam.
Theo đó, nhiều nước trên thế giới vẫn sử dụng công cụ này để kích thích khả năng xuất khẩu nước mình. Chẳng hạn với Trung Quốc, họ thực hiện chính sách này rất rõ ràng và cho phép một số ngân hàng lớn có mô hình hoạt động tương tự như ngân hàng quốc doanh tại Việt Nam (ngân hàng cổ phần nhưng nhà nước nắm giữ tỷ lệ cổ phần ưu thế) thực hiện.
Điển hình trong danh mục hàng hóa mà Trung Quốc áp dụng theo chính sách nói trên là xuất khẩu sản phẩm hóa chất, phân bón, sắt thép, đặc biệt là máy móc công nghiệp.
Chưa triển khai vì e ngại
Nhiều năm gần đây, trong các cuộc họp bàn triển khai một số dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, khái niệm “nguồn vốn được hỗ trợ lãi suất của nước ngoài” tham gia vào cơ cấu vốn trong dự án không còn xa lạ và dự án mở rộng Nhà máy giấy Bãi Bằng, với tổng mức đầu tư 7 nghìn - 8 nghìn tỷ đồng là một trong nhiều ví dụ.
Hay mở rộng hơn, trong dòng vốn ODA Nhật tài trợ cho Việt Nam, có một tỷ lệ khá lớn được tính bằng máy móc, nguyên vật liệu do chính nước Nhật sản xuất.
Xác định đây là lĩnh vực không dễ triển khai do tính rủi ro khá cao, từ năm 2006, Chính phủ đã giao cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đảm trách nhiệm vụ này dựa trên nguồn vốn tín dụng ưu đãi nhà nước.
Tuy nhiên, trong số hàng chục nghìn tỷ đồng VDB giải ngân cho tín dụng xuất khẩu mỗi năm vẫn chưa có một hợp đồng cho nhà nhập khẩu nước ngoài vay.
Ông Nguyễn Quang Dũng, Tổng giám đốc VDB nói: “Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho VDB thực hiện hỗ trợ cho cả đầu mua hàng hóa Việt Nam. Tuy nhiên, muốn triển khai thì sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam phải có trí tuệ và tích lũy tri thức cao thì VDB sẵn sàng cho vay đối với doanh nghiệp các nước mua hàng hóa của Việt Nam”.
Khai thông bằng bảo lãnh Chính phủ
Ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Giấy Sài Gòn cho biết, nghiệp vụ cho vay nhà nhập khẩu đã được triển khai hàng chục năm nay ở các nước trong khu vực như Indonesia, Malaysia nhưng ở Việt Nam, công cụ này vẫn hết sức xa lạ.
Ông Vị phân tích, không nhất thiết phải là ngân hàng quốc doanh mới có thể triển khai nghiệp vụ này mà các ngân hàng thương mại cổ phần lớn vẫn có thể thực hiện. Dĩ nhiên, điều kiện đảm bảo là phải có sự hỗ trợ từ hành lang pháp lý đến tài chính của Chính phủ.
Đồng tình, bà Sơn cho rằng, để tránh rủi ro, cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu nước ngoài mua hàng hóa Việt Nam đòi hỏi phải giải quyết hàng loạt vấn đề như tạo hành lang pháp lý, phương thức cấp tín dụng, điều kiện tài sản đảm bảo, khả năng thẩm định dự án, thông tin khách hàng, kiểm soát rủi ro, bảo hiểm....
Tuy nhiên, nếu giữa hai Chính phủ ký kết với nhau bằng các hiệp định khung bảo lãnh thanh toán thì hoạt động này gần như rất ít trở ngại.
Ông Lê Bá Lịch, Chủ tịch Hiệp hội thức ăn chăn nuôi cho biết, mặc dù vẫn còn nhập khẩu thức ăn chăn nuôi nhưng riêng với thị trường Lào và Campuchia, mỗi năm Việt Nam vẫn xuất khẩu vào hai nước này khoảng 400 - 500 nghìn tấn.
Nếu các ngân hàng trong nước cho vay đối với các nhà nhập khẩu của Lào và Campuchia thì doanh số này hàng năm sẽ còn tăng thêm.
Theo bà Sơn, khi đã có hành lang pháp lý hoặc bảo lãnh giữa hai chính phủ, các doanh nghiệp và ngân hàng sẽ vào cuộc tích cực hơn.
“Trong điều kiện Việt Nam lựa chọn xuất khẩu làm động lực tăng trưởng và có những thế mạnh nhất định về sản phẩm chế biến công nghiệp thực phẩm như hạt điều, cao su, cà phê, ca cao... thì việc đề ra một chiến lược tổng thể cho xuất khẩu, trong đó đẩy mạnh cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu nước ngoài là việc nên làm”, bà Sơn nói.




Thị trường vận tải biển quốc tế từ đầu tháng 5/2026 đến nay đang chứng kiến đợt tăng giá cước mạnh trên nhiều tuyến vận chuyển trọng điểm, đặc biệt là các tuyến kết nối châu Á với Bắc Mỹ và châu Âu. Đối với ngành thủy sản Việt Nam, đây là diễn biến đáng lo ngại bởi logistics luôn là một trong những khoản chi phí lớn nhất trong cơ cấu giá thành xuất khẩu...
Kết quả thẩm tra và phê duyệt cập nhật Danh sách doanh nghiệp thủy sản Việt Nam được phép xuất khẩu vào thị trường Đài Loan là cơ sở quan trọng giúp các doanh nghiệp duy trì hoạt động xuất khẩu ổn định, nâng cao khả năng tiếp cận và mở rộng thị phần...
Từ 1/7/2026, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận và chứng nhận lại chủng loại gạo thơm xuất khẩu sang EU và Vương quốc Anh để được hưởng ưu đãi thuế quan theo các Hiệp định EVFTA và UKVFTA sẽ chính thức được giao về địa phương. Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính, hướng tới mô hình quản lý linh hoạt hơn, sát thực tiễn hơn và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp...
Xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam tiếp tục duy trì tăng trưởng trong những tháng đầu năm 2026 nhờ sự bứt phá của các thị trường châu Á, đặc biệt là Trung Quốc. Tuy nhiên, ngành gỗ cũng đang đối mặt với nhiều thách thức từ các biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu xanh hóa ngày càng khắt khe từ EU và áp lực chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để nâng cao năng lực cạnh tranh...
Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN (USABC) vừa có kiến nghị liên quan đến công tác quản lý nhập khẩu hóa chất của cơ quan chức năng Việt Nam. Theo Bộ Tài chính, đơn vị đã đề xuất lên Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Công thương rà soát, sửa đổi Nghị định số 26/2026/NĐ-CP để xử lý những bất cập trong quá trình triển khai.
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.