Theo Ban Quản lý các Khu chế xuất và Khu công nghiệp TP. Hồ Chí Minh, tổng diện tích dự kiến cho 14 khu công nghiệp mới này là khoảng 3.833 ha.
Cụ thể, kế hoạch 3 giai đoạn phát triển 14 khu công nghiệp mới theo mô hình thông minh, xanh. Trong đó:
Giai đoạn 2025–2027, gồm 04 khu công nghiệp: Phạm Văn Hai I, Phạm Văn Hai II, Vĩnh Lộc 3, Nhị Xuân;
Giai đoạn 2027–2030, gồm 05 khu công nghiệp: An Phú, Trung An, Lê Minh Xuân 4, Phạm Văn Hai III, Hiệp Phước 3;
Giai đoạn 2030–2033, gồm 05 khu công nghiệp: Tân Phú Trung 2, 3, 4 (600 ha), Bình Khánh 1, Bình Khánh 2.
Đại diện HEPZA cho biết hiện các dự án vẫn đang trong giai đoạn lập quy hoạch và chưa lựa chọn nhà đầu tư, do đó chưa phát sinh các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai.
Sau khi quy hoạch phân khu được phê duyệt, Ban Quản lý sẽ tham mưu UBND Thành phố tổ chức lựa chọn nhà đầu tư theo các tiêu chí quy định, bao gồm năng lực tài chính, kinh nghiệm triển khai dự án, năng lực kỹ thuật và hiệu quả tài chính – thương mại. Quy trình lựa chọn đảm bảo công khai, minh bạch, đúng quy định pháp luật.
Hiện tại, Thành phố có 105 khu chế xuất và khu công nghiệp với tổng diện tích hơn 50.288 ha, trong đó 58 khu đã đi vào hoạt động với tỷ lệ lấp đầy khoảng 80%. Điều này cho thấy sức hút đầu tư mạnh mẽ và hiệu quả khai thác của các khu công nghiệp hiện hữu.
Việc phát triển các khu công nghiệp mới không chỉ nhằm tạo thêm quỹ đất sạch phục vụ sản xuất mà còn thu hút các dòng vốn đầu tư chất lượng cao.
Thành phố hiện cũng đang tập trung lập quy hoạch phân khu theo lộ trình cụ thể, với kế hoạch trong năm 2026 sẽ lập quy hoạch cho 8 khu công nghiệp với tổng diện tích 5.374 ha. Tiếp theo, năm 2027 sẽ là 10 khu công nghiệp với 4.657 ha, và năm 2028 là 4 khu công nghiệp với 1.100 ha. Sau năm 2028, quy hoạch cho 9 khu công nghiệp còn lại với diện tích 7.194 ha sẽ được hoàn thành.
Việc phát triển các khu công nghiệp mới được kỳ vọng sẽ góp phần giải quyết việc làm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của TP. Hồ Chí Minh trong thời gian tới. Đây không chỉ là một bước đi chiến lược trong việc phát triển kinh tế mà còn là cơ hội để thành phố khẳng định vị thế của mình trên bản đồ kinh tế khu vực và quốc tế.
Với tầm nhìn dài hạn và sự chuẩn bị kỹ lưỡng, TP. Hồ Chí Minh đang từng bước khẳng định vai trò tiên phong trong phát triển công nghiệp bền vững, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế toàn diện và bền vững trong tương lai.
Dù Việt Nam tiệm cận mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân với khoảng 95% dân số tham gia, người bệnh vẫn phải gánh vác tới gần 40% chi phí y tế từ “tiền túi”, gấp 4 lần so với mức khuyến nghị của WHO. Vì vậy, giải pháp đột phá cho giai đoạn tiếp theo không nằm ở việc tiếp tục mở rộng độ bao phủ dân số, mà là nâng cao mức độ bảo vệ tài chính thực chất thông qua ứng dụng kinh tế dược học và đánh giá công nghệ y tế...
UBND tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo rà soát từng dự án, từng vướng mắc để xử lý dứt điểm, nhất là công tác giải phóng mặt bằng các dự án điện…
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Theo HSBC, kết quả tăng trưởng GDP 8,18% trong 6 tháng đầu năm phản ánh nền kinh tế Việt Nam đang có thêm nhiều động lực tăng trưởng, trong đó FDI tiếp tục là "lá phiếu tín nhiệm" của nhà đầu tư quốc tế. Dù vậy, áp lực lạm phát, tỷ giá và lãi suất vẫn là những biến số đáng lưu ý trong những tháng cuối năm...
Trong các thương vụ huy động vốn, IPO hay mở rộng chuỗi cung ứng quốc tế, thông tin phát triển bền vững đang dần trở thành một phần của đối thoại tài chính. Với sự ra đời của IFRS S1 và IFRS S2, doanh nghiệp không chỉ được yêu cầu công bố nhiều thông tin hơn, mà còn phải chứng minh các rủi ro và cơ hội về phát triển bền vững có thể tác động như thế nào đến triển vọng kinh doanh và khả năng tiếp cận vốn…
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.