Những biến động địa chính trị tại Trung Đông đang gây gián đoạn nghiêm trọng hệ thống logistics toàn cầu, đặt dấu hỏi lớn về tính ổn định của tuyến vận tải biển Á – Âu. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng đứt gãy, nhu cầu tìm kiếm các phương án vận tải bổ trợ nhằm phân tán rủi ro trở nên cấp thiết.
Đường sắt liên vận quốc tế nổi lên như một cấu phần mới trong cấu trúc thương mại xuyên lục địa, không chỉ là giải pháp thay thế ngắn hạn mà còn là hành lang phân tán rủi ro mang tính chiến lược. Tuy nhiên, cơ hội này chỉ có thể được tận dụng khi các quốc gia không chỉ dừng ở kết nối tuyến, mà tiến tới tổ chức lại không gian logistics và đồng bộ hóa hạ tầng ở quy mô hệ thống.
Sự trỗi dậy của các tuyến đường sắt liên vận Á – Âu phản ánh một thay đổi lớn hơn trong tư duy logistics toàn cầu. Đường sắt, với tốc độ cao hơn biển và độ độc lập lớn hơn trước các biến động hàng hải, đang dần đảm nhận vai trò của một “hành lang dự phòng” cho thương mại liên lục địa. Những đoàn tàu container xuyên Á – Âu đang mở ra một hình dung mới về “con đường tơ lụa” trong thời đại hiện nay.
Theo số liệu từ Tập đoàn Đường sắt Nhà nước Trung Quốc, chỉ trong 2 tháng đầu năm 2026, tuyến đường sắt vận tải hàng hóa Trung Quốc - châu Âu đã thực hiện 3.501 chuyến vận chuyển, chuyên chở 352.000 đơn vị container 20 feet (TEU), tăng lần lượt 32% và 25% so với cùng kỳ năm 2025.
Đặc biệt, đường sắt liên vận còn thể hiện ưu thế vượt trội nhờ khả năng tối ưu hành trình hai chiều. Thay vì để container rỗng trong lượt về, hệ thống này tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa từ Trung Quốc và Trung Á đổ ngược về Việt Nam, từ đó giảm giá thành vận chuyển tổng thể và duy trì hoạt động ổn định trước mọi biến động của thời tiết hay địa chính trị. Việc rút ngắn thời gian, tiết giảm chi phí và đa dạng hóa lộ trình đang biến đường sắt trở thành “trụ đỡ” mới cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong giai đoạn hiện nay.
Sự trỗi dậy của đường sắt liên vận không chỉ là một giải pháp tình thế trước các biến động địa chính trị, mà còn mở ra vận hội mới để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi logistics toàn cầu. Tuy nhiên, để tiềm năng này thực sự chuyển hóa thành động lực kinh tế bền vững, bài toán “đồng bộ hóa” hạ tầng cần phải được giải quyết một cách rốt ráo.
Đường sắt sẽ trở thành trục xương sống nối liền Bắc – Nam, đóng vai trò hạt nhân kết nối với các cảng biển, sân bay và các khu công nghiệp trọng điểm. Việc tích hợp đường sắt quốc gia với mạng lưới đường sắt đô thị, địa phương và hệ thống đường bộ sẽ tạo ra một hệ sinh thái vận tải đa phương thức, giúp luân chuyển hàng hóa trục Bắc – Nam một cách nhịp nhàng và hiệu quả.
Trong bối cảnh các tuyến hàng hải truyền thống chịu tác động mạnh từ yếu tố địa chính trị, việc tái phân bổ phương thức vận tải không còn là lựa chọn dài hạn, mà đã trở thành phản ứng ngắn hạn của thị trường.
Đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp logistics, vận tải đường sắt vì vậy không chỉ là phương án bổ sung, mà đang dần trở thành một lựa chọn mang tính tình thế nhằm duy trì tính liên tục của chuỗi cung ứng. Khả năng đảm bảo lịch trình và mức độ ít phụ thuộc vào các điểm nghẽn trên biển cho phép doanh nghiệp có thêm một “biên độ an toàn” trong tổ chức vận hành, nhất là đối với các tuyến vận chuyển hướng tới thị trường Á – Âu...
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 14-2026 phát hành ngày 06/04/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-14-2026.html




Tại Hội nghị lần thứ 4, Tỉnh ủy Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2025 - 2030 vừa diễn ra, các đại biểu đã xem xét, thông qua chủ trương đầu tư Dự án đường ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh (giai đoạn 3) với tổng mức đầu tư 6.000 tỷ đồng.
Tăng trưởng kinh tế 8,18%, chưa đạt mục tiêu đề ra là 9,7%. Có 25/34 địa phương tăng trưởng thấp hơn mục tiêu. Cơ cấu thương mại còn nhiều rủi ro. Xuất khẩu tăng cao nhưng nhập khẩu tăng nhanh hơn… Đó là những thách thức được Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong đề cập tại Họp báo Chính phủ thường kỳ vừa diễn ra tại Hà Nội.
Thành phố Cần Thơ đã triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế xã hội và đạt nhiều kết quả tích cực trong 6 tháng đầu năm 2026. Tăng trưởng GRDP ước tăng 6,70% so cùng kỳ năm ngoái...
FDI không phải là mục tiêu của chính sách phát triển, mà là một trong nhiều nguồn lực phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Khi các nguồn lực quốc gia ngày càng hữu hạn, mọi chính sách ưu đãi, mọi quyết định phân bổ đất đai, hạ tầng, năng lượng hay dữ liệu đều cần hướng đến giá trị dài hạn mà nền kinh tế nhận được...
Sau gần 40 năm mở cửa, FDI vẫn là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, khi quy mô nền kinh tế đã thay đổi và các nguồn lực phát triển ngày càng tiệm cận giới hạn, câu hỏi đặt ra lúc này là đã đến lúc nhìn nhận đúng vai trò của FDI trong chiến lược phát triển quốc gia...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Tăng trưởng kinh tế 8,18%, chưa đạt mục tiêu đề ra là 9,7%. Có 25/34 địa phương tăng trưởng thấp hơn mục tiêu. Cơ cấu thương mại còn nhiều rủi ro. Xuất khẩu tăng cao nhưng nhập khẩu tăng nhanh hơn… Đó là những thách thức được Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong đề cập tại Họp báo Chính phủ thường kỳ vừa diễn ra tại Hà Nội.