Đây là một trong những điểm nhấn quan trọng tại Nghị định số
35/2026/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành quy định chi tiết một số điều của Nghị
quyết số 111/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phân loại đô thị.
Quy định mới lần đầu tiên luật hóa khái niệm phát triển đô thị tăng trưởng xanh.
BA NHÓM TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TĂNG TRƯỞNG XANH
Theo Nghị định, phát triển đô thị tăng trưởng xanh là việc
quy hoạch, đầu tư xây dựng đô thị bảo đảm các nội dung về tăng trưởng xanh, hạ
tầng xanh, không gian xanh và các công trình xanh theo quy định, phù hợp với từng
vùng, miền và từng đô thị trong từng giai đoạn nhất định.
Việc phát triển đô thị tăng trưởng xanh phải phù hợp với Chiến
lược quốc gia về tăng trưởng xanh, các định hướng, chiến lược, kế hoạch phát
triển kinh tế- xã hội của đất nước và của địa phương. Trong đồ án quy hoạch đô
thị và nông thôn phải có nội dung khảo sát, đánh giá và có giải pháp về phát
triển đô thị tăng trưởng xanh được xác định trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
quy hoạch; trong chương trình, kế hoạch phát triển đô thị phải có các nội dung
về phát triển đô thị tăng trưởng xanh theo quy định.
Yêu cầu cụ thể đối với khu vực đô thị mở rộng, ngoài việc phải
tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch có liên quan đến các tiêu
chí phát triển đô thị tăng trưởng xanh về đất cây xanh đô thị, đất cây xanh
công cộng, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và các tiêu chí liên quan
khác, khi lập, điều chỉnh và triển khai thực hiện quy hoạch đô thị, địa phương
còn phải xác định cụ thể các tiêu chí, tiêu chuẩn tương ứng với loại đô thị
theo Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 và các tiêu chí khác quy định tại Nghị định
để triển khai đầu tư xây dựng dự án, các công trình tại khu vực đô thị mở rộng.
Đối với đô thị mới, việc phát triển đô thị tăng trưởng xanh
phải đáp ứng các tiêu chí, tiêu chuẩn theo loại đô thị tương ứng theo quy định
Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15, và các tiêu chí quy định của Nghị định.
Đối với các dự án đầu tư xây dựng tại đô thị (từ ngày Nghị định
có hiệu lực), khi thực hiện phê duyệt dự án, đầu tư xây dựng và quản lý dự án
phải tuân thủ các tiêu chí phát triển đô thị tăng trưởng xanh đã được xác định
trong quy hoạch đô thị, chương trình, kế hoạch phát triển đô thị hoặc nâng cao
hơn so với quy định (bao gồm không gian mở, mặt nước, công viên cây xanh, hệ thống
cây xanh đường phố, cốt cao độ thoát nước thải của dự án với hệ thống thoát nước
chung của khu vực).
Các dự án phải sử dụng vật liệu phát thải carbon thấp, thân
thiện với môi trường, sử dụng các thiết bị, công nghệ thông minh, tiết kiệm
năng lượng hoặc sử dụng năng lượng tái tạo, năng lượng sạch. Cùng với đó phải có
hệ thống thu gom và xử lý rác thải, nước thải hoàn chỉnh đồng bộ của dự án được
kết nối với hệ thống hạ tầng chung của đô thị; có hệ thống giám sát, đánh giá các
tiêu chí xây dựng đô thị tăng trưởng xanh kết nối với hệ thống đánh giá chung của
địa phương.
Theo Nghị định này, có 3 nhóm tiêu chí cụ thể cho phát triển
đô thị tăng trưởng xanh. Thứ nhất, nhóm tiêu chí hạ tầng xanh, gồm tỷ lệ vận
tải hành khách công cộng, tỷ lệ xe buýt năng lượng xanh; tỷ lệ phương tiện giao
thông cá nhân hạn chế phát thải; đường dành riêng cho xe đạp; tỷ lệ dân được
cung cấp nước sạch và diện tích cây xanh bình quân đầu người…
Thứ hai, nhóm tiêu chí môi trường, tập trung vào chỉ số chất
lượng không khí; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, vận chuyển và xử
lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; tỷ lệ nước thải sinh hoạt được thu gom
và xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; tỷ lệ ngày trong năm có nồng độ bụi
siêu mịn và bụi mịn trong môi trường không khí vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi
trường cho phép.
Thứ ba, nhóm tiêu chí năng lượng và giảm phát thải, yêu cầu
tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo trong tổng tiêu thụ năng lượng; tỷ lệ nhà dân
sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu và số lượng công trình xanh được
cấp chứng chỉ.
ĐƯỢC BẢO LÃNH TÍN DỤNG ĐỂ VAY VỐN, TIẾP CẬN CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH XANH
Cùng với phát triển đô thị tăng trưởng xanh, Nghị định cũng
quy định yêu cầu chung về phát triển đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm
nhẹ phát thải khí nhà kính trong phát triển đô thị.
Cụ thể, UBND cấp tỉnh ngoài việc thực hiện các nội dung thích
ứng với biến đổi khí hậu theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường còn phải
thực hiện các nội dung về thích ứng với biến đổi khí hậu trong phát triển đô thị.
Các đô thị phải thực hiện nội dung đánh giá tác động ảnh hưởng
của biến đổi khí hậu đối với địa bàn và dự báo khu vực cảnh báo thiên tai theo
quy định pháp luật về bảo vệ môi trường để xây dựng phương án quy hoạch nhằm hạn
chế tối đa hoặc giảm thiểu các thiệt hại, tác động rủi ro về biến đổi khí hậu trong
quá trình đầu tư xây dựng và quản lý đô thị.
Phương án quy hoạch ưu tiên giải pháp dựa vào tự nhiên
(Nature-based Solutions) trên cơ sở đặc điểm địa hình, khí hậu, thủy văn và hệ
sinh thái của từng đô thị, bảo đảm khai thác hợp lý tài nguyên và không gian
xanh đô thị. Tuân thủ các quy định về tài nguyên nước, bảo vệ môi trường, đê điều
và phòng chống thiên tai; bảo đảm khả năng thích ứng trong các tình huống của
biến đổi khí hậu, thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan;
UBND cấp tỉnh ngoài việc thực hiện các nội dung về giảm nhẹ
phát thải khí nhà kính theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, còn phải
thực hiện các nội dung về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong phát triển đô
thị.
Về phát triển phương tiện giao thông thân thiện môi trường,
căn cứ quy mô dân số và tính chất của từng đô thị, trong quy hoạch đô thị phải
xác định mạng lưới giao thông công cộng có sức chở lớn, bảo đảm kết nối thuận lợi
giữa các khu chức năng, trung tâm đô thị và khu vực lân cận; phát triển hệ thống
giao thông xanh.
Tại các đô thị loại đặc biệt và loại I, căn cứ tình hình thực
tế của địa phương hoặc yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, UBND cấp tỉnh phải xây
dựng lộ trình, khu vực chuyển đổi hệ thống phương tiện giao thông công cộng sử
dụng nhiên liệu hóa thạch sang phương tiện sử dụng năng lượng sạch, năng lượng
tái tạo và phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ phương tiện giao thông
sử dụng các loại năng lượng này.
Các địa phương ban hành các cơ chế, chính sách ưu đầu, khuyến
khích, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân chuyển đổi phương tiện giao thông cá nhân sử
dụng nhiên liệu hóa thạch sang phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch,
năng lượng tái tạo.
Điểm nhấn quan trọng của Nghị định nằm ở cơ chế chính sách
ưu đãi cho phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Cụ thể, các dự án đầu tư xây dựng tại đô thị, nếu thực hiện các
tiêu chí tăng trưởng xanh như trên, sẽ được Nhà nước bảo lãnh tín dụng để vay vốn.
Ngoài ra, chủ đầu tư còn được mở cửa tiếp cận nguồn vốn ưu đãi từ các quỹ bảo vệ
môi trường các quỹ khác liên quan đến tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi
khí hậu.
Về chính sách thuế, các chủ đầu tư rót vốn vào hạng mục hạ tầng
xanh, công trình tiết kiệm năng lượng, hay hệ thống xử lý rác thải, nước thải đạt
chuẩn sẽ được hưởng các chính sách như hoàn thuế, khấu trừ thuế hoặc được miễn,
giảm thuế.
Bên cạnh đó, các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng xanh, công
trình công cộng sử dụng năng lượng sạch sẽ được UBND cấp tỉnh ưu tiên bố trí quỹ
đất đã giải phóng mặt bằng theo quy hoạch. UBND cấp tỉnh, UBND cấp xã có trách
nhiệm bố trí ngân sách địa phương để hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý
đô thị trong lĩnh vực phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi
khí hậu trên địa bàn.