
Giảm niềm tin vào hệ thống tư pháp, trong các biện pháp giải quyết tranh chấp của doanh nghiệp có cả sử dụng xã hội đen, nhóm nghiên cứu của VCCI cho biết trong một báo cáo mới được công bố.
Thực hiện nghị quyết 19 và nghị quyết 35 về cải thiện môi trường kinh doanh và phát triển doanh nghiệp - góc nhìn từ doanh nghiệp là tên của bản báo cáo.
Quá trình thực hiện báo cáo này, nhóm chuyên gia của Ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã phỏng vấn không chỉ doanh nhân mà có cả các luật sư.
Cải cách tư pháp là một trong những nội dung đáng chú ý của nghiên cứu nói trên.
Theo các tác giả thì trong chỉ tiêu của Ngân hàng Thế giới đánh giá môi trường kinh doanh, có hai chỉ tiêu liên quan chặt chẽ đến cải cách tư pháp là thực thi hợp đồng và giải quyết phá sản. Hai cơ quan chịu trách nhiệm chính cải cách chỉ số này là toà án và cơ quan thi hành án dân sự.
Nhưng thực tế thì mặc dù trong đối tượng phỏng vấn có khá nhiều các luật sư, nhóm nghiên cứu ghi nhận rằng cải cách tư pháp tại các địa phương diễn ra rất chậm. Tất cả các luật sư được hỏi đều cho biết việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại và phá sản vẫn mất rất nhiều thời gian mà hiệu quả không cao.
Nhóm nghiên cứu cho biết, nguyên nhân của thực trạng này nằm ở cả toà án và cơ quan thi hành án. Cụ thể, đối với thủ tục nhận và thụ lý đơn khởi kiện hiện nay, tình trạng hướng dẫn bằng lời nói (không có văn bản), trả lại đơn không rõ lý do, không viết phiếu hẹn diễn ra phổ biến.
Tình trạng vi phạm thời hạn tố tụng hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ án vì những lý do cứng nhắc, thậm chí nhũng nhiễu tiêu cực, vẫn diễn ra thường xuyên. Kể cả sau khi đã có bản án thì công tác thi hành án cũng rất chậm và không có cải thiện so với trước đây.
Nhóm nghiên cứu cũng ghi nhận, Toà án nhân dân Tối cao đã có nhiều chính sách mang tính cải cách hệ thống văn bản pháp luật về tố tụng dân sự. Trong số những điều chỉnh đó, một số thay đổi có tác động tích cực trên thực tiễn, nhưng cũng không ít điểm cải cách mới chỉ nằm trên giấy, còn trên thực tế, doanh nghiệp và luật sư chưa cảm nhận được.
Các kết quả khảo sát trên diện rộng cũng cho thấy tình trạng doanh nghiệp giảm niềm tin vào hệ thống tư pháp. Theo điều tra PCI, nếu như năm 2013, có đến 60% các doanh nghiệp được hỏi cho biết họ sẵn sàng khởi kiện ra toà nếu có tranh chấp với đối tác, thì đến năm 2017, con số này chỉ còn 36%. Một số tỉnh có tỷ lệ doanh nghiệp sẵn sàng khởi kiện cao như Lào Cai, Sơn La, Bến Tre.
Qua số liệu thống kê, các tác giả báo cáo cho biết, các doanh nghiệp chưa bao giờ tiếp xúc với toà án có niềm tin vào hệ thống tư pháp cao hơn so với những doanh nghiệp đã từng tiếp xúc. Theo điều tra PCI, đối với những doanh nghiệp chưa bao giờ tiếp xúc, vẫn có 81% tin tưởng rằng quyền lợi chính đáng và hợp pháp của mình sẽ được toà án và cơ quan thi hành án dân sự bảo vệ, trong khi chỉ có 70% doanh nghiệp từng tiếp xúc với hệ thống tư pháp có niềm tin này.
Lý do lớn nhất để các doanh nghiệp không lựa chọn biện pháp tư pháp là thời gian, tiếp theo đó là tình trạng chạy án. Đặc biệt là các doanh nghiệp đã từng vướng kiện tụng luôn đánh giá thấp hơn so với doanh nghiệp chưa từng, báo cáo nêu rõ.
Bốn lý do doanh nghiệp không khởi kiện ra toà được thống kê gồm: thời gian quá dài, chi phí cao, tình trạng "chạy án" phổ biến và trình độ, năng lực của cán bộ thấp.
Có đến 60% doanh nghiệp đã tiếp xúc với toà án nêu lý do thứ nhất, 42% nêu lý do liên quan đến " chạy án".
Đáng chú ý, nhóm nghiên cứu cho biết, trong trường hợp không khởi kiện, các doanh nghiệp buộc phải sử dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp khác thay thế như trọng tài thương mại, nhờ cán bộ nhà nước tác động, đưa ra báo chí, sử dụng xã hội đen và các biện pháp khác.
Những doanh nghiệp đã từng khởi kiện cho biết họ sẽ chuyển sang sử dụng các biện pháp này nhiều hơn so với các doanh nghiệp chưa từng khởi kiện, nhóm nghiên cứu cho biết.
Cụ thể, 9% doanh nghiệp đã tiếp xúc với toà án lựa chọn biện pháp sử dụng xã hội đen, 41% nhờ cán bộ nhà nước tác động, 23% chọn giải pháp đưa ra báo chí, 47% chọn trọng tài thương mại, theo thống kê tại báo cáo.
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đánh giá Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm đã không ngừng phát triển, khẳng định vị thế là một trong những cơ quan báo chí kinh tế hàng đầu, uy tín của đất nước...
"Chúng tôi tin tưởng Tạp chí Kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục có những bước phát triển mạnh mẽ, hiện thực hóa mục tiêu trở thành tổ hợp truyền thông đa nền tảng, hiện đại, chất lượng cao, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của đất nước"...
Công tác chuẩn bị năm học 2026-2027 phải tạo chuyển biến thực chất trong nhà trường, đội ngũ giáo viên và người học, đồng thời cụ thể hóa Nghị quyết 71-NQ/TW bằng nhiệm vụ, nguồn lực, thời hạn và trách nhiệm rõ ràng.
Dự thảo Nghị định mới về kinh doanh xăng dầu tập trung tái cơ cấu hệ thống phân phối, cắt giảm khâu trung gian và bắt buộc số hóa dữ liệu. Việc hoàn thiện khung pháp lý này nhằm minh bạch hóa thị trường, bảo đảm an ninh năng lượng và duy trì nguồn cung ổn định cho nền kinh tế trong mọi tình huống…
Báo chí Cách mạng Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong việc giám sát xã hội và phản biện chính sách. Chính năng lực giám sát, phản biện đã thúc đẩy việc hoàn thiện thể chế, tạo nên uy tín và sức mạnh cho báo chí với tư cách một “quyền lực thứ tư” trong đời sống hiện đại.
Kinh tế ngày nay không còn là một lĩnh vực tách biệt, mà được định hình mạnh mẽ bởi địa chính trị, công nghệ và tính bền vững. Giữa dòng chảy thông tin dồi dào, điều độc giả cần nhất ở báo chí chính thống là bối cảnh, góc nhìn chuyên sâu và sự tin cậy. Trong giai đoạn tới, sứ mệnh lớn nhất của báo chí kinh tế không phải là trở thành người đưa tin nhanh nhất, mà là trở thành nền tảng tinh thần của nền kinh tế.
Hạ tầng năng lượng thông minh đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa vận hành hệ thống năng lượng, tăng cường khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh của Việt Nam. Nhận diện các cơ hội và thách thức, đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng thông minh đang là yêu cầu cấp thiết.