
Theo đó, Việt Nam đã xuất khẩu sang Trung Quốc được 917.255 tấn với kim ngạch đạt khoảng 530,6 triệu USD, giá bình quân 578 USD/tấn, cao hơn một chút so với hai đối tác xếp trên với 559 USD và 549 USD/tấn.
Tuy nhiên, nhìn lại giai đoạn 2017 – 2022, Trung Quốc nhập khẩu gạo của Việt Nam ghi nhận sự biến động tương đối lớn. Riêng năm 2017, Trung Quốc nhập khẩu lên đến 1 tỷ USD sản phẩm gạo của Việt Nam, nhưng đến năm 2019, kim ngạch nhập khẩu chỉ đạt hơn 240 triệu USD và phục hồi trở lại trong giai đoạn 2020 và 2021 nhưng có xu hướng giảm trong hai năm trở lại đây.
Phân tích của Thương vụ Việt Nam tại Bắc Kinh cho rằng, một số khó khăn khiến xuất khẩu gạo của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc giảm đó là việc hàng năm Trung Quốc ban hành hạn ngạch nhập khẩu đối với gạo.
Trong những năm trở lại đây, hạn ngạch nhập khẩu gạo của Trung Quốc không có thay đổi nhiều. Năm 2023, hạn ngạch nhập khẩu gạo của nước này ở mức 5,32 triệu tấn, trong đó hạn ngạch dành cho gạo hạt dài với 2,66 triệu tấn và gạo hạt ngắn với 2,66 triệu tấn. Con số này không thay đổi trong những năm trở lại đây.
Công bố của Hải quan Trung Quốc cũng cho thấy, năm 2023, Trung Quốc nhập khẩu 2,63 triệu tấn gạo, giảm 57,5% so với năm 2022. Thái Lan vẫn là đối tác cung ứng gạo lớn nhất của Trung Quốc trong tháng 12/2023.
Đặc biệt trong nhiều năm nay, lượng gạo nhập khẩu của Trung Quốc chỉ chiếm mức dưới 4% tổng sản lượng sản xuất gạo trong nước. Trong đó, một số loại gạo chất lượng cao được bổ sung vào tiêu thụ ở phân khúc gạo cao cấp, một số loại gạo phổ thông dùng để phối trộn với các loại gạo của sở tại hoặc được chế biến, đóng gói theo thương hiệu của doanh nghiệp Trung Quốc.
Ngoài ra, Trung Quốc hạn chế số lượng doanh nghiệp gạo được phép xuất khẩu sang nước này. Hiện nay, Trung Quốc chỉ cho phép 21 doanh nghiệp được phép xuất khẩu gạo sang thị trường này trong tổng số khoảng 200 doanh nghiệp gạo Việt Nam đã được cấp phép.
Bên cạnh đó là sự cạnh tranh khốc liệt tại thị trường Trung Quốc. Hiện nay các sản phẩm gạo có mặt trên thị trường Trung Quốc đều có chất lượng tương đối cao bên cạnh việc các nước xuất khẩu rất chú trọng vào khâu đóng gói bao bì.
Qua công tác nắm tình hình, ông Nông Đức Lai, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Trung Quốc, nhận thấy bao bì gạo của Thái Lan, Lào có mặt tại hệ thống siêu thị của Trung Quốc (thậm chí cả hệ thống siêu thị khu vực phía Bắc Trung Quốc – khu vực tương đối khắt khe về chất lượng hàng hóa và yêu cầu về bao bì) được đóng gói hết sức chắc chắn, bắt mắt và phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Trung Quốc.
Nhu cầu nhập khẩu gạo cũng có sự biến động trong những năm trở lại đây kể từ khi cọ xát Nga – Ucraine nổ ra, nguồn cung ứng lương thực toàn cầu có nhiều biến động, do đó cơ cấu nhập khẩu lương thực của Trung Quốc cũng bị tác động.
Trước thực trạng trên, Thương vụ Việt Nam tại Bắc Kinh nhận định, năm 2024, khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng cường nhập khẩu gạo để điều tiết hài hòa giữa nhập khẩu và sản xuất nhằm đảm bảo an ninh lương thực. Dự báo năng lực nhập khẩu sẽ tăng do nhu cầu sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước vẫn ở mức cao.
Đồng thời, với việc Ấn Độ vừa ban hành chính sách cấm xuất khẩu gạo vừa qua, mặc dù chính quyền Trung ương Trung Quốc chưa đưa ra bất kỳ phản ứng chính sách cụ thể nào, tuy nhiên cộng đồng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực lương thực thực phẩm Trung Quốc đã bắt đầu có những động thái tìm kiếm nguồn cung thay thế.
Tuy nhiên, với việc Trung Quốc có hạn ngạch nhập khẩu, đồng thời nguồn cung bị thu hẹp, giá cả dự báo sẽ tăng trong thời gian tới, không loại trừ khả năng sẽ có hiện tượng thu mua ồ ạt từ một số đơn vị nhập khẩu tại địa bàn.
Về gạo tấm nhập khẩu (một trong những sản phẩm thay thế chính cho ngô và lúa mì sử dụng trong công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi), theo nhận định của chuyên gia nước này, với việc Ấn Độ đã ban hành lệnh cấm xuất khẩu gạo, do vậy sản lượng nhập khẩu tấm từ các đối tác này dự báo sẽ giảm so với hai năm trước đó (2022 và 2023) và Trung Quốc sẽ tăng cường nhập khẩu từ các đối tác khác trong đó có Việt Nam.
Do đó, các doanh nghiệp cần theo dõi sát diễn biến thị trường gạo Trung Quốc, nắm bắt cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.