Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng vừa ký Quyết định số 438/QĐ-TTg ngày 16/3/2026 phê duyệt Chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 (Chiến lược).
Chiến lược đặt mục tiêu phát triển và ứng dụng
năng lượng nguyên tử theo hướng an toàn, an ninh, phục vụ hiệu quả phát triển
kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, bảo vệ môi trường và
củng cố an ninh năng lượng quốc gia, đồng thời góp phần hiện thực hóa cam kết
phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
VẬN HÀNH 2
NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN NINH THUẬN VÀO NĂM 2035
Về phát triển điện hạt nhân, Chiến lược phấn đấu đến
năm 2035, hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành an toàn 2 nhà máy điện hạt
nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2; phấn đấu mức tham gia của các doanh nghiệp
trong nước đạt tỷ lệ 30% tổng mức đầu tư các hạng mục xây dựng, lắp đặt của các
hạng mục phụ trợ dự án điện hạt nhân; phấn đấu triển khai ít nhất 1 dự án nhà
máy điện hạt nhân sử dụng công nghệ lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ.
Hoàn
thành phát triển cơ sở hạ tầng điện hạt nhân; hoàn thành định hướng phát triển
các dự án điện hạt nhân tiếp theo theo hướng an toàn, bền vững và hiệu quả, góp
phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thực hiện mục tiêu phát thải ròng
bằng “0”.
Song song với đó, hoàn thành phát triển cơ sở hạ tầng điện hạt nhân; hoàn thành
định hướng phát triển các dự án điện hạt nhân tiếp theo theo hướng an toàn, bền
vững và hiệu quả, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thực hiện mục
tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Về phát triển, ứng dụng bức xạ và
đồng vị phóng xạ, đến năm 2035 nâng quy mô và hiệu quả kinh tế của các ứng dụng
bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các ngành và lĩnh vực, đạt tốc độ tăng trưởng
trung bình 10 - 15%/năm.
Y học bức xạ đạt trình độ tiên
tiến trong các nước ASEAN, phấn đấu đạt 20 máy CT/triệu dân, 10 máy MRI/triệu
dân, 1 máy xạ hình/triệu dân, từ 1 - 2 máy xạ trị gia tốc/triệu dân, đạt tỷ lệ
100% X-quang số.
Đồng thời, làm chủ các kỹ thuật hạt nhân và
công nghệ bức xạ tiên tiến trong quản lý chất lượng công trình, chất lượng sản
phẩm, tối ưu hóa quá trình công nghiệp, xử lý và biến tính vật liệu; chế tạo,
sản xuất một số loại thiết bị bức xạ và thiết bị ghi đo bức xạ có nhu cầu lớn
trong các ngành kinh tế - xã hội thay thế cho nhập khẩu...
Về phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ hạt
nhân, bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát triển
nguồn nhân lực, đến năm
2035 phát triển hệ thống các cơ sở nghiên cứu tiên tiến.
Trong đó tập trung đầu
tư hình thành 2 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về công nghệ điện hạt
nhân, công nghệ đất hiếm, urani, titan; 3 - 5 phòng thí nghiệm tiên tiến; phấn
đấu có 4 - 5 nhóm nghiên cứu có khả năng làm chủ một số công nghệ hạt nhân hỗ
trợ các dự án điện hạt nhân và lò phản ứng nghiên cứu; đầu tư 3 - 5 cơ sở đào
tạo đại học về điện hạt nhân đạt trình độ tiên tiến, ngang tầm quốc tế...
ĐIỆN HẠT NHÂN CHIẾM 6 - 8% TỔNG SẢN LƯỢNG ĐIỆN QUỐC GIA
Về tầm nhìn dài hạn, đến năm 2050, năng lượng
nguyên tử được định hướng trở thành một ngành kinh tế – kỹ thuật quan trọng,
đóng góp thiết thực vào an ninh năng lượng, phát triển kinh tế xanh và bền
vững.
Theo đó, điện hạt nhân dự kiến đóng góp khoảng
6–8% tổng sản lượng điện quốc gia, với việc bổ sung thêm khoảng 4 lò phản ứng
công suất lớn và 10–15 lò phản ứng mô-đun nhỏ. Tùy theo điều kiện kinh tế – kỹ
thuật, quy mô và cơ cấu này có thể tiếp tục được điều chỉnh theo hướng tối ưu.
Đáng chú ý, Việt Nam hướng tới cơ bản làm chủ
công nghệ hạt nhân, đồng thời phát triển các doanh nghiệp, tập đoàn trong nước
có năng lực thiết kế, chế tạo, xây lắp và sản xuất thiết bị cho ngành điện hạt
nhân.
Cùng với đó, các công nghệ bức xạ và kỹ thuật
hạt nhân tiên tiến sẽ được ứng dụng rộng rãi trong y tế, công nghiệp, nông
nghiệp, tài nguyên và môi trường, góp phần nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế
- xã hội. Một trung tâm máy gia tốc quy mô lớn cũng sẽ được đưa vào vận hành.
Về tổng thể, tiềm lực và trình độ khoa học –
công nghệ hạt nhân của Việt Nam được kỳ vọng đạt mức trung bình của các nước
phát triển, với cơ sở vật chất hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao, từng
bước đưa Việt Nam trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng hạt nhân
của khu vực Đông Nam Á.
Theo
Chiến lược, việc phát triển điện hạt nhân sẽ được triển khai theo lộ trình linh
hoạt, kết hợp hài hòa giữa các nhà máy công suất lớn và các lò phản ứng mô-đun
nhỏ, đồng thời được cụ thể hóa bằng hệ thống cơ chế, chính sách và chương trình
hành động đồng bộ