Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 9 tháng năm 2024, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 46,28 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm 2023. Toàn ngành xuất siêu 13,86 tỷ USD, tăng tới 71,2% so với cùng kỳ năm 2023.
Phân tích về thị trường xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 9 tháng năm 2024, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết: Hoa Kỳ vươn lên dẫn đầu với kim ngạch đạt 9,72 tỷ USD, chiếm 21% thị phần trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam; đứng thứ hai là Trung Quốc với kim ngạch đạt 9,26 tỷ USD, chiếm 20%; Nhật Bản là thị trường lớn đứng thứ ba với hơn 3 tỷ USD, chiếm thị phần 6,6%. So với cùng kỳ năm 2023, giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam sang ba thị trường này đều tăng từ 10-20%.
Về xuất khẩu nhóm các mặt hàng nông sản, trong 9 tháng năm 2024 đạt 24,85 tỷ USD, tăng 27,7% so với cùng kỳ năm 2023. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta đều có kết quả tích cực. Cụ thể, cà phê đạt 4,37 tỷ USD, tăng 39,6%; cao su đạt 2,84 tỷ USD, tăng 16,4%; chè đạt 189 triệu USD, tăng 34,2%; gạo đạt 4,37 tỷ USD, tăng 23,5%; nhân điều đạt 3,17 tỷ USD, tăng 22,5%; hạt tiêu hơn 1 tỷ USD, tăng 46,9%; sắn và sản phẩm từ sắn đạt 0,9 tỷ USD, tăng 1,9%; đường mía đạt 285 triệu USD, tăng 39,3%; chế phẩm từ sản phẩm trồng trọt đạt 583 triệu USD, giảm 28,3%.
Đáng chú ý, xuất khẩu rau quả đạt 5,84 tỷ USD, tăng 39,4% so với cùng kỳ năm 2023 và đã vượt xa cả năm 2023; trong đó, sầu riêng đạt giá trị hơn 2,5 tỷ USD, các loại trái cây khác như thanh long, chuối, mít và xoài cũng đóng góp đáng kể vào tăng trưởng xuất khẩu. Trong số 10 thị trường chính nhập khẩu rau quả Việt Nam, hầu hết đều ghi nhận sự tăng trưởng mạnh, trừ Hà Lan. Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất với kim ngạch 9 tháng năm 2024 đạt 3,4 tỷ USD, tăng 36% so với cùng kỳ năm 2023, theo sau là Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Thái Lan với giá trị nhập khẩu tăng trưởng 35-90%.
Trong 9 tháng năm 2024, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 7 triệu tấn gạo, với kim ngạch 4,37 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2023, lượng gạo xuất khẩu tăng 9,2%, giá trị tăng 23,5%. Thống kê cho thấy, giá xuất khẩu gạo trung bình của Việt Nam trong 9 tháng năm 2024 ở mức 624 USD/tấn, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2023.
Với các đơn hàng đã ký, dự tính trong quý 4/2024, cần đến hơn 2 triệu tấn gạo cho xuất khẩu, nâng tổng lượng gạo xuất khẩu dự tính lên hơn 9 triệu tấn. Tuy nhiên, lượng gạo trong nước dành cho xuất khẩu đã cạn, trong khi miền Bắc đối diện với nguy cơ mất mùa, khi có gần 300.000ha lúa ở các tỉnh miền Bắc bị ngập úng, hư hại do bão số 3. Đây không phải là “vựa lúa gạo” để phục vụ xuất khẩu, song cũng ảnh hưởng lớn tới nguồn cung mặt hàng này tại thị trường nội địa, dẫn đến sẽ có một lượng lớn gạo từ Đồng bằng sông Cửu Long thay vì xuất khẩu, sẽ được chuyển ra miền Bắc để đáp ứng nhu cầu trong nước.
Trước tình hình đó, nhiều doanh nghiệp cho rằng trong quý cuối năm 2024 sẽ phải tăng nhập khẩu gạo để đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu. Trong 9 tháng năm 2024, Việt Nam đã chi 996 triệu USD để nhập khẩu các mặt hàng gạo về phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng nội địa, tăng 57,3% so với cùng kỳ năm 2023. Đây cũng là con số cao kỷ lục trong lịch sử, đồng thời vượt xa kim ngạch nhập khẩu 860 triệu USD của năm 2023.
Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết trong quý 4/2024, nguồn cung gạo trong nước hiện không còn nhiều, một số doanh nghiệp xuất khẩu sẽ phải tăng nhập lúa gạo từ các nước láng giềng để trả đơn hàng xuất khẩu những tháng cuối năm. Vì vậy, nếu doanh nghiệp tiếp tục tham gia đấu thầu các gói gạo mà Indonesia chào mời, thì phải tăng nhập khẩu từ các nước lân cận.
Thông tin về tình hình xuất khẩu thủy sản, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết trong 9 tháng năm 2024 đạt 7,16 tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2023. Như vậy, sau 4 năm bị xáo trộn bởi dịch Covid-19, chiến tranh, lạm phát… diễn biến của các thị trường đang dần ổn định, xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2024 đã quay trở lại quỹ đạo thông thường, là tăng tốc trong nửa cuối năm 2024 và đạt đỉnh vào quý 3, khi đạt 2,76 tỷ USD, tăng gần 13% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, các mặt hàng chủ lực đều có những bứt phá đáng kể như cá tra tăng 13,5%, tôm tăng 17,5%, cua ghẹ tăng 56%, nhuyễn thể có vỏ tăng 95%.
Tính chung 9 tháng năm 2024, xuất khẩu tôm mang về kim ngạch cao nhất với gần 2,8 tỷ USD, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2023. Năm 2024, tôm đông lạnh xuất khẩu vẫn bị tác động bởi xu hướng giá chưa phục hồi rõ rệt, cùng với áp lực giá bán cạnh tranh với tôm Ecuador và Ấn Độ. Tuy nhiên, tôm chế biến của Việt Nam vẫn có vị thế tốt ở các thị trường.
Tiếp đến là mặt hàng cá tra, sau 9 tháng năm 2024 đạt 1,46 tỷ USD, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2023; cá ngừ đạt 715 triệu USD, tăng 16%; cua ghẹ đạt 227 triệu USD, tăng 66%, chủ yếu nhờ xuất khẩu sản phẩm cua sống sang thị trường Trung Quốc tăng mạnh. Riêng với mặt hàng mực và bạch tuộc, trong 9 tháng năm 2024 chỉ đạt 464 triệu USD, giảm nhẹ 2,7% so với cùng kỳ năm trước.
Đối với tình hình xuất khẩu gỗ và lâm sản, trong 9 tháng năm 2024 ước đạt 12,466 tỷ USD, tăng 20,3% so với cùng kỳ năm 2023. Trong nhóm lâm sản, xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 7,84 tỷ USD, tăng 20,7%; xuất khẩu gỗ nguyên liệu đạt 3,533 tỷ USD, tăng 13,1%; xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ đạt 777 triệu USD, tăng 3,9%.
Về thị trường xuất khẩu, ngoại trừ Hàn Quốc và Nhật Bản có dấu hiệu giảm nhẹ lần lượt là 2,7% và 1,4% so với cùng kỳ năm 2023, còn lại các thị trường nhập khẩu chính vẫn duy trì tăng trưởng khá mạnh; trong đó, Hoa Kỳ đạt 5,9 tỷ USD, tăng 24,7% so với cùng kỳ 2023 và chiếm 54,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản; tiếp đến là Trung Quốc đạt 1,3 tỷ USD, châu Âu đạt 630 triệu USD và đều tăng trên 20% so với cùng kỳ năm 2023...
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 41-2024 phát hành ngày 07/10/2024. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam




Phát biểu tại lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa chính là "vườn ươm" của những tập đoàn lớn, đồng thời đóng vai trò là nền tảng vững chắc giúp đất nước bứt phá với mục tiêu tăng trưởng hai con số...
Thanh khoản và tín dụng tăng không đồng nghĩa nền kinh tế đã có đủ vốn cho phát triển. Vấn đề của Việt Nam nằm sâu hơn ở cấu trúc tài chính, khi hệ thống ngân hàng đang phải gánh quá nhiều nhu cầu vốn có thời gian hoàn vốn từ vài năm đến vài chục năm. Muốn chuyển từ tăng trưởng dựa vào tín dụng sang tăng trưởng dựa trên năng lực sản xuất, Việt Nam cần hình thành "vốn kiên nhẫn" và một hệ sinh thái tài chính đa kênh...
Trong 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của Vĩnh Long đạt gần 2 tỷ USD, tăng 13,56% so với cùng kỳ. Địa phương đang tập trung mở rộng thị trường để tạo động lực cho những tháng cuối năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng GRDP quý 3 ở mức 12,77% và cả năm 2026 đạt 10%...
Đợt rà soát hành chính định kỳ biện pháp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp hướng vào ba nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam gồm: pin năng lượng mặt trời, mật ong thô và túi dệt...
VASEP nhận định thuế Section 301 tại Hoa Kỳ đang tạo ra mặt bằng cạnh tranh mới cho thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, yếu tố quyết định không chỉ là mức thuế 12,5% mà là tổng chi phí đưa sản phẩm vào thị trường Hoa Kỳ, gồm thuế MFN, Section 301, AD/CVD nếu có, cùng chi phí logistics và các yêu cầu kỹ thuật...
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Việt Nam đang có tiềm năng lớn về trữ lượng dầu mỏ. Thậm chí, với những nguồn mỏ dầu khí đang cạn kiệt còn mở ra cơ hội lưu trữ carbon. Tận dụng tốt các nguồn mỏ này sẽ tạo ra CCS, Carbon Capture & Storage – một thị trường mới đầy tiềm năng, quy mô hàng chục tỷ USD.