
Theo số liệu thống kê được Tổng cục Hải quan công bố chiều 21/11/2022, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước tháng 10 đạt 58,27 tỷ USD, tăng nhẹ 0,1% (tương ứng tăng 67 triệu USD) so với tháng 9.
Tính chung 10 tháng năm 2022, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá của cả nước đạt 616,3 tỷ USD, tăng 14,1% (tương ứng tăng 75,99 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2021.
Cán cân thương mại hàng hóa trong tháng 10 thặng dư 2,47 tỷ USD, đưa mức thặng dư thương mại hàng hóa 10 tháng/2022 lên 9,59 tỷ USD.
Cụ thể về xuất khẩu, trong tháng 10/2022 đạt 30,37 tỷ USD, tăng 1,9% (tương ứng tăng 552 triệu USD về số tuyệt đối) so với tháng trước.
Một số nhóm hàng tăng trong tháng như: điện thoại các loại và linh kiện tăng 285 triệu USD (tương ứng tăng 5,7%); giày dép các loại tăng 171 triệu USD (tương ứng tăng 9,5%); dầu thô tăng 156 triệu USD (tương ứng tăng 100%)...
Bên cạnh đó có một số nhóm hàng giảm mạnh trong tháng là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 410 triệu USD (tương ứng giảm 8%); máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác giảm 238 triệu USD (tương ứng giảm 5,7%)...
Tính chung 10 tháng năm 2022, tổng trị giá xuất khẩu đạt 312,94 tỷ USD, tăng 16% (tương ứng tăng 43,1 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác tăng 8,27 tỷ USD; giày dép tăng 5,89 tỷ USD; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 5,75 tỷ USD; hàng dệt may tăng 5,64 tỷ USD; điện thoại các loại và linh kiện tăng 3,78 tỷ USD…
Từ chiều ngược lại, nhập khẩu hàng hóa trong tháng 10/2022 đạt 27,9 tỷ USD, giảm 1,7% (tương ứng giảm 485 triệu USD) so với tháng trước.
Một số nhóm hàng có trị giá nhập khẩu giảm mạnh, gồm: máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng giảm 309 triệu USD, dầu thô giảm 224 triệu USD, máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 221 triệu USD, nguyên phụ liệu dệt may da giày giảm 105 triệu USD. Tổng trị giá của 4 nhóm hàng này giảm 859 triệu USD.
Như vậy, tính chung 10 tháng năm 2022, tổng trị giá nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 303,35 tỷ USD, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm 2021.
Trong đó, tăng mạnh nhất là máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 10,04 tỷ USD (tương ứng tăng 16,6%); xăng dầu các loại tăng 4,08 tỷ USD (tương ứng tăng 123,9%); hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 2,81 tỷ USD (tương ứng tăng 22,5%); than các loại tăng hơn 2,7 tỷ USD (tương ứng tăng 77,3%); dầu thô tăng 2,31 tỷ USD (tương ứng tăng 57,2%); nguyên phụ liệu dệt may, da giày tăng 2,24 tỷ USD (tương ứng tăng 10,4%).
Về thị trường xuất nhập khẩu, trong 10 tháng năm 2022, trao đổi thương mại hàng hóa của Việt Nam với châu Á đạt 398,41 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2021, tiếp tục chiếm tỷ trọng cao nhất (64,6%) trong tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước.
Trị giá xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với các châu lục khác lần lượt là: châu Mỹ: 131,23 tỷ USD, tăng 16,8%; châu Âu: 64,7 tỷ USD, tăng 8,9%; châu Đại Dương: 15,02 tỷ USD, tăng 30,4% và châu Phi: 6,94 tỷ USD, giảm nhẹ 1,5% so với 10 tháng/2021.
Tổng cục Hải quan ghi nhận tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong tháng 10/2022 là 41,08 tỷ USD, giảm 0,9% so với tháng trước, đưa tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp FDI trong 10 tháng năm 2022 lên 428,99 tỷ USD, tăng 14,6% (tương ứng tăng 54,58 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2021.
Trong đó, xuất khẩu hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 10 là 22,73 tỷ USD, tăng nhẹ 0,1% so với tháng 9, qua đó nâng trị giá xuất khẩu hàng hóa trong 10 tháng năm 2022 của doanh nghiệp FDI lên 231,04 tỷ USD, tăng 17% (tương ứng tăng 33,52 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2021 và chiếm 73,8% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước.
Ở chiều ngược lại, trị giá nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 10/2022 là 18,35 tỷ USD, giảm 2% so với tháng trước, đưa trị giá nhập khẩu của khối này trong 10 tháng năm 2022 đạt 197,95 tỷ USD, tăng 11,9% (tương ứng tăng 21,06 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2021, chiếm 65,3% tổng trị giá nhập khẩu của cả nước.
Cán cân thương mại hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 10/2022 đạt thặng dư 4,38 tỷ USD, đưa cán cân thương mại trong 10 tháng năm 2022 của khối doanh nghiệp này lên mức thặng dư gần 33,1 tỷ USD.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Đóng góp quan trọng nhất mà VIFC-HCMC có thể mang lại cho tăng trưởng kinh tế quốc gia không đơn thuần là thu hút thêm dòng vốn, mà trở thành nền tảng đáng tin cậy để dòng vốn khu vực và toàn cầu lưu chuyển qua đó...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Chính phủ nhằm đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang quản lý bằng dữ liệu và hậu kiểm. Mục tiêu là rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.