Theo số liệu mới công bố của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tính đến hết tháng 8/2026, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam (bao gồm vốn cấp mới, vốn điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần) đạt 40,63 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, vốn đăng ký cấp mới đạt 21,72 tỷ USD với 2.771 dự án được cấp phép. Đáng chú ý, số lượng dự án chỉ tăng 9,4%, nhưng quy mô vốn tăng mạnh 96,8% so với cùng kỳ, cho thấy quy mô trung bình của các dự án cấp mới đã gia tăng đáng kể. Điều này cho thấy các nhà đầu tư đã sẵn sàng rót vốn ngay từ giai đoạn đầu.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là lĩnh vực thu hút vốn FDI nhiều nhất với 12,15 tỷ USD, chiếm 55,9% tổng vốn đăng ký mới. Tiếp đến là lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa với 3,13 tỷ USD, chiếm 14,4%.
Trong số 73 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án cấp mới vào Việt Nam, Châu Á tiếp tục là khu vực dẫn đầu. Trong đó, Singapore tiếp tục giữ vững vị trí dẫn đầu với 7,62 tỷ USD, chiếm trọn 35,1% tổng vốn đăng ký cấp mới. Hàn Quốc đứng vị trí thứ hai với 5,67 tỷ USD (26,1%). Tiếp đó là Đặc khu hành chính Hồng Công (Trung Quốc) với 2,96 tỷ USD, Trung Quốc đại lục với 1,93 tỷ USD và Nhật Bản với 1,42 tỷ USD.
Cùng với sự gia tăng của dòng vốn mới, vốn đầu tư mở rộng cũng có sự tăng trưởng. Trong 8 tháng đầu năm 2026, có 819 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước quyết định tăng vốn đầu tư thêm tổng cộng 12,21 tỷ USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ.
Tính gộp cả vốn mới và vốn tăng thêm, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút tới 20,18 tỷ USD, chiếm tới 59,5%; trong khi mảng kinh doanh bất động sản với 5,32 tỷ USD, chiếm 15,7%.
Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần, có 2.062 lượt giao dịch với tổng giá trị 6,7 tỷ USD đã được thực hiện, tăng mạnh 50,1%. Điều thú vị là các nhà đầu tư ngoại đang rót tiền mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ lên tới 4,15 tỷ USD, so với mức 2,55 tỷ USD rót vào để tăng vốn điều lệ.
Đáng chú ý, dòng vốn M&A không chảy mạnh vào bất động sản như trước đây mà đang hướng tới những lĩnh vực mang hàm lượng chất xám cao và thị trường tiêu dùng nội địa. Cụ thể, các hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ dẫn đầu với 2,74 tỷ USD (chiếm 40,9%), tiếp theo là mảng bán buôn, bán lẻ và sửa chữa xe cơ giới đạt 2,01 tỷ USD (chiếm 30%).
Đặc biệt, vốn FDI thực hiện tại Việt Nam trong tám tháng đã ước đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là con số giải ngân cao nhất của kỳ tám tháng trong suốt 5 năm qua.
Trong số 17,25 tỷ USD đã được đưa vào nền kinh tế, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vị thế tuyệt đối với 14,24 tỷ USD (chiếm 82,6%), bỏ xa lĩnh vực đứng thứ hai là kinh doanh bất động sản (1,29 tỷ USD, chiếm 7,5%) và năng lượng (622,9 triệu USD, chiếm 3,6%).
Ở chiều ngược lại, tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (gồm cả cấp mới và điều chỉnh) trong 8 tháng qua đạt mức 2,62 tỷ USD, cao gấp 4,7 lần so với cùng kỳ năm ngoái.
Sự bứt phá này đến từ 113 dự án được cấp mới với số vốn 1,21 tỷ USD (gấp 2,8 lần cùng kỳ) và đặc biệt là 29 dự án điều chỉnh tăng vốn với con số lên tới 1,41 tỷ USD (gấp 10,9 lần).
Thay vì chỉ tập trung vào nông nghiệp hay thương mại đơn thuần, nguồn vốn nay được đổ mạnh vào ngành vận tải kho bãi (601,7 triệu USD, chiếm 23%), tiếp đến là lĩnh vực năng lượng cũng bứt phá với 585,8 triệu USD.
Về thị trường nhận vốn đầu tư, Lào dẫn đầu với 667,5 triệu USD, tiếp đến là Campuchia (486,5 triệu USD). Đáng chú ý, doanh nghiệp Việt đang mở rộng địa bàn đầu tư sang các thị trường lớn và tiềm năng như Ấn Độ (323,9 triệu USD) hay Indonesia (313,6 triệu USD), tạo tiền đề cho những bước phát triển mang tính toàn cầu hóa sâu rộng hơn.
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Thay đổi từ tư duy bồi thường thiệt hại về đất sang tư duy tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi. Câu chuyện tái thiết sinh kế, việc làm, thu nhập cho người bị thu hồi đất là vấn đề trọng tậm cần được tập trung giải quyết.
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao cho dân tộc Việt Nam quyền lựa chọn, kiến tạo con đường phát triển kinh tế vì lợi ích của đất nước và nhân dân. Từ thời khắc ấy, khát vọng độc lập gắn liền với khát vọng xây dựng một quốc gia tự chủ, giàu mạnh, trong đó thành quả phát triển phải nâng cao đời sống và mở rộng cơ hội tiến bộ cho mọi người dân.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã coi trọng việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa từ cách đây gần 80 năm, còn Việt Nam mới chỉ bắt đầu công cuộc này cách đây một phần tư thế kỷ. Vì vậy, vẫn còn rất nhiều việc cần làm để phát huy tối đa vai trò của khu vực này, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của đất nước.
Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Ngành Thống kê Việt Nam (6/5/1946 - 6/5/2026), Cục Thống kê công bố cuốn sách “Cấu trúc kinh tế Việt Nam 40 năm đổi mới (1986-2025)”. Đáng chú ý, lần đầu tiên một số liệu quan trọng về tương quan giữa GDP sản xuất và GDP sử dụng được công bố, qua đó cho thấy những kết quả tích cực của nền kinh tế, đồng thời đặt ra không ít vấn đề cần tiếp tục phân tích.
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Ít ai nghĩ những sợi cói, mây, lục bình hay cỏ bàng mộc mạc lại có thể trở thành những sản phẩm thời trang tinh tế, có giá trị hàng triệu đồng. Nhưng với Trần Doãn Hùng, những nguyên liệu quen thuộc ấy đã trở thành chất liệu để anh khởi nghiệp và kể câu chuyện về quê hương bằng một cách rất khác.