
Thuốc giả đang có nguy cơ xuất hiện trở lại nhiều hơn và tỷ lệ thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng cũng đang có xu hướng tăng lên.
Đó là nhận định của PGS-TS. Trịnh Văn Lẩu, Viện trưởng Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương tại hội nghị ở Đà Lạt ngày 11/5 vừa qua.
So với năm 2005, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tân dược trong năm 2006 tăng trưởng khá với tổng trị giá tiền thuốc sử dụng 956.353 nghìn USD, tăng 16,99%; trị giá thuốc sản xuất trong nước 475.403 nghìn USD, tăng 120,30%; trị giá thuốc nhập khẩu 710.000 nghìn USD, tăng 9,20%; trị giá thuốc xuất khẩu 19.744 nghìn USD, tăng 11,99%; tiền thuốc bình quân đầu người 11,23 USD, tăng 14,0%.
Thuốc giả, nhập lậu có chiều hướng gia tăng
Các lĩnh vực khác cũng tăng trưởng như mạng lưới cung ứng thuốc với 41.500 cơ sở bán lẻ trên toàn quốc (20.000 người dân/1 cơ sở). Hệ thống sản xuất thuốc (số đăng ký thuốc lưu hành trên thị trường 14.097). Theo đó, năm 2006 đã bình ổn thị trường thuốc: chỉ số giá tiêu dùng đạt 6,6%, giảm 21% và chỉ số giá nhóm hàng dược phẩm, y tế đạt 4,3%, giảm 12%.
Tuy nhiên, theo cảnh báo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và thực tế ở Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, thuốc giả và thuốc kém chất lượng có chiều hướng tăng. Năm 2006, Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương, Viện Kiểm nghiệm thuốc Tp. HCM và 63 trung tâm đã kiểm nghiệm được 41.998 mẫu thuốc, trong đó 29.819 mẫu lấy để kiểm tra chất lượng.
Kết quả phát hiện 947 mẫu thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng, tỷ lệ 3,18% (các năm 2003, 2004, 2005 là 3,08%, 3,05%, 3,00%). Chất lượng thuốc không đạt cả từ 2 nguồn sản xuất đều tăng: trong nước, từ 3,00% năm 2002 lên 3,52% năm 2006 và nhập khẩu từ 1,33% năm 2004 lên 1,59% năm 2006.
Đáng báo động là vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa tỷ lệ thuốc không đạt chất lượng tới 2,54%, đông dược 11,55%. PGS, TS Trịnh Văn Lẩu cho rằng tồn tại và thách thức đối với việc đánh giá chất lượng thuốc trên lĩnh vực hiệu lực điều trị (phải đánh giá tương đương sinh học đối với các thuốc generic) thì ở Việt Nam mới chỉ tiếp cận từ năm 2003 và bắt đầu thử từ năm 2004.
Đối với thuốc giả, năm 2006 phát hiện 38 mẫu, tỷ lệ 0,13% (năm 2001 và 2002 là 0,03%; 2003 và 2004 là 0,06%, 2005 là 0,09%). Đặc biệt thuốc giả được làm tinh vi hơn, bằng mắt thường rất khó phát hiện và “đã xâm nhập vào cơ sở điều trị từ tuyến y tế cơ sở đến tuyến trung ương, đến trực tiếp người bệnh, gây nên những hậu quả nghiêm trọng” - đánh giá của Thanh tra Bộ Y tế.
Trung tâm Kiểm nghiệm dược phẩm-mỹ phẩm Tp.HCM còn cho biết, chính những quy định về chức năng nhiệm vụ và quyền hạn hiện hành đã “trói tay” Trung tâm này trong hoạt động mạng lưới và lấy mẫu nên gặp khó khăn khi kiểm tra và lấy mẫu thuốc ngoài luồng, thuốc nhập lậu.
Cơ quan y tế đứng... ngoài cuộc?
ThS. Nguyễn Việt Hùng - Phó Cục trưởng Cục Quản lý dược Việt Nam cho biết thực trạng: tính chất và quy mô sản xuất, buôn bán thuốc giả ngày càng phức tạp, tinh vi, khó nhận biết. Thuốc bị làm giả chủ yếu là thuốc biệt dược, ngoại nhập, đắt tiền. Thuốc nhập lậu (cả tân dược, thuốc từ dược liệu và thuốc đông y) qua biên giới rất phức tạp, không kiểm soát đầy đủ. Một số lượng đáng kể thuốc nhập lậu (có thể có thuốc giả) đang trôi nổi trên thị trường.
Nhiều cơ sở kinh doanh thuốc không tuân thủ các quy định hiện hành, buôn bán thuốc không có hóa đơn chứng từ, không rõ nguồn gốc. Việc lấy mẫu kiểm nghiệm chỉ công khai tại quầy, kho còn thuốc giả lại được cất giấu, nguỵ trang kỹ lưỡng, rất khó phát hiện và không thể lấy mẫu được.
Phải chăng đây là một lý do mà Viện trưởng Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương thừa nhận hầu như các vụ sản xuất, lưu thông thuốc giả thời gian qua chủ yếu do lực lượng công an phát hiện chứ không phải các cơ quan chức năng của ngành y tế?
Hiện ở Việt Nam, trang thiết bị của hệ thống kiểm nghiệm còn thiếu, chưa đồng bộ. Ngay các loại thuốc thiết yếu tại một số trung tâm kiểm nghiệm cũng chưa đủ những trang thiết bị phân tích để kiểm nghiệm. Thậm chí không có kinh phí để mua chất chuẩn, chất đối chiếu và dung môi hóa chất. Vì vậy, ngoài khắc phục những tồn tại trên đồng thời phải có nhiều giải pháp triển khai như tăng cường quản lý chất lượng toàn diện từ khâu sản xuất đến lưu thông, phân phối; phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan kiểm nghiệm, quản lý và thanh tra...




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.