Thông tư 09/2026/TT-BNNMT sửa đổi Thông tư 02/2022/TT-BTNMT quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường được Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành có một số điểm mới trong đó đáng chú ý là bổ sung yêu cầu kỹ thuật với việc lưu giữ và quản lý chất thải rắn công nghiệp thông thường; quy định quản lý chất thải sau xử lý, tái chế và xử lý chất thải trong một số trường hợp đặc thù.
Quy định mới bổ sung yêu cầu kỹ thuật với việc lưu giữ và quản lý chất thải rắn công nghiệp thông thường. Theo đó, việc sử dụng chất thải rắn công nghiệp thông thường phải xử lý để làm nguyên liệu trực tiếp cho hoạt động sản xuất của dự án, cơ sở phải phù hợp với quy trình sản xuất và được nêu trong quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc giấy phép môi trường hoặc giấy phép môi trường thành phần hoặc đăng ký môi trường.
Một điểm mới nổi bật khác đó là bổ sung yêu cầu kỹ thuật cụ thể đối với bể đóng kén dùng để lưu giữ chất thải nguy hại với chủ xử lý.
Cụ thể, bể đóng kén có dạng hình trụ, hình hộp hoặc các dạng khác kết cấu bằng bê tông cốt thép đặt ngầm; đặt trên mặt đất hoặc đặt nửa nổi, nửa chìm. Kết cấu của bể phải đảm bảo yêu cầu không thấm nước, chống ăn mòn và không bị ảnh hưởng của môi trường xâm thực theo đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về xây dựng. Vị trí đặt bể phải phù hợp với điều kiện địa chất thủy văn để đảm bảo tránh sụt lún, nứt gãy.
Cùng với đó, diện tích đáy của mỗi bể không quá 100 m2 và chiều cao không quá 05 m; trường hợp có nhiều hơn một bể thì các bể phải được xây dựng với kết cấu độc lập, không chung thành bể trừ trường hợp tổng diện tích các bể không quá 100 m2.
Cũng theo quy định mới, chất thải (dạng khối hoặc bao bì) phải được xếp gọn gàng trong bể, giữa các lớp chất thải hoặc các khoảng trống phải được chèn thêm cát khô hoặc vật liệu đệm để giảm độ rỗng, hạn chế sụt lún theo thời gian. Trong suốt quá trình nạp chất thải (khi bể chưa đầy), bể phải có mái che hoặc bạt phủ kín để không cho nước mưa chảy vào; có biển hiệu và dấu hiệu cảnh báo theo quy định;
Sau khi bể đầy, phải đóng kín bể bằng nắp bê tông cốt thép đảm bảo kết cấu bền vững, phủ thêm các lớp màng chống thấm (HDPE) hoặc nhũ tương nhựa đường lên trên nắp bê tông để ngăn nước mưa thấm từ trên xuống theo đúng quy định tại các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về xây dựng; lắp đặt biển báo khu vực chất thải nguy hại, cấm đào bới; trường hợp sử dụng khu vực mặt bể sau khi đóng kín cho mục đích khác thì phải bảo đảm tải trọng khả năng chịu lực.
Việc quy định chi tiết về thiết kế, kết cấu và vật liệu của bể đóng kén đã thể hiện rõ cách tiếp cận theo hướng phòng ngừa rủi ro ngay từ khâu thiết kế.
Điều 20 Thông tư bổ sung quy định việc quản lý chất thải sau xử lý, tái chế và xử lý chất thải trong một số trường hợp đặc thù.
Thứ nhất, sản phẩm thu được từ quá trình tái chế, xử lý chất thải khi đưa vào lưu thông trên thị trường, phục vụ mục đích tiêu dùng, sử dụng hoặc kinh doanh phải đáp ứng yêu cầu theo quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Thứ hai, chất thải vô cơ được xử lý bằng phương pháp ổn định, hóa rắn để sản xuất gạch không nung chỉ được phối trộn với các nguyên liệu, vật liệu khác với tỷ lệ khối lượng chất thải không vượt quá 30% khối lượng hỗn hợp (tính theo khối lượng khô), trừ trường hợp ổn định, hóa rắn để chôn lấp tại bãi chôn lấp chất thải rắn theo quy định.
Sản phẩm gạch không nung đáp ứng đồng thời yêu cầu quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng (QCVN 16:2023/BXD) và kết quả thử nghiệm ngâm chiết của các thông số nguy hại không vượt ngưỡng chất thải nguy hại quy định tại QCVN 07:2025/BNNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại được tận dụng làm vật liệu xây dựng.
Thứ ba, chất thải khi xử lý bằng phương pháp đồng xử lý phải bảo đảm đáp ứng đồng thời các yêu cầu: Phù hợp với quy trình công nghệ sản xuất; Có tỷ lệ chất thải thay thế nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phù hợp; Sản phẩm thu được từ quá trình sản xuất đồng xử lý chất thải đáp ứng yêu cầu theo quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Các quy định mới bổ sung được nhìn nhận sẽ góp phần nâng cao tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật, giảm nguy cơ sự cố môi trường, bảo đảm quản lý toàn bộ vòng đời chất thải.
Thay vì chỉ phát triển các khu công nghiệp mới theo tiêu chí xanh, TP. Đồng Nai đang đặt ra lộ trình chuyển hóa những khu công nghiệp đã hình thành sang mô hình xanh, sinh thái. Từ sản xuất sạch hơn, cộng sinh công nghiệp đến sử dụng năng lượng hiệu quả và kiểm kê khí nhà kính, quá trình này đang được cụ thể hóa bằng một loạt kế hoạch trong năm 2026.
Việt Nam đang nghiên cứu phát triển các trung tâm công nghiệp - dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng điện gió, điện mặt trời và thúc đẩy hình thành chuỗi cung ứng công nghiệp xanh trong nước. Với vai trò kết nối sản xuất điện, chế tạo thiết bị, hạ tầng cảng biển, logistics và đào tạo nhân lực, mô hình này được kỳ vọng tạo động lực mới cho chuyển dịch năng lượng và công nghiệp xanh...
Từng phổ biến trong những khu vườn thời Xô viết nhưng dần bị các giống mận phù hợp hơn với sản xuất công nghiệp thay thế, Mirabelle đang trở lại tại nhiều khu vườn ở Nga. Câu chuyện về một giống cây có quả nhỏ, mềm, khó vận chuyển nhưng giàu hương vị không chỉ cho thấy sự thay đổi trong thị hiếu tiêu dùng, mà còn gợi mở cách nhìn mới về bảo tồn nguồn gen, chế biến tại chỗ và phát triển nông nghiệp xanh...
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lâm Đồng Lê Trọng Yên được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường...
Từ chó robot tuần tra an toàn, camera AI nhận diện nguy cơ đến hệ thống hàn tự động và bản sao số 3D, công nghệ đang được đưa sâu vào công trường điện hạt nhân tại Trung Quốc. Không chỉ nâng cao an toàn và chất lượng xây dựng, quá trình số hóa này còn mở ra cách tiếp cận mới đối với phát triển năng lượng xanh, trong đó dữ liệu và tự động hóa trở thành một phần của hạ tầng quản trị…
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập bình quân ngay trong tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%.