
Tổng kim ngạch nhập khẩu c
ủa Vi
ệt Nam
năm 2007 ước đạt 59 tỷ USD, tăng 31% so với năm 2006.
Trong đó doanh nghiệp có vốn trong nước nhập khẩu 38 tỷ USD, tăng 33,8% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 21 tỷ USD, tăng 27,4%.
Nhập siêu c
ủa Vi
ệt Nam n
ăm 2007
đ
ã
tăng trên 70% so với năm 2006.
Những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu có trị giá tăng cao so với năm 2006 gồm ôtô nguyên chiếc, linh kiện ô tô, thép, phôi thép, phân bón, chất dẻo nguyên liệu, sợi các loại, máy móc thiết bị phụ tùng, tân dược, điện tử, máy tính và linh kiện, vải, dầu mỡ động thực vật, sản phẩm hoá chất, gỗ và nguyên liệu, sữa, thức ăn gia súc và nguyên liệu.
Các mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch lớn thuộc nhóm nguyên nhiên vật liệu, phụ liệu (không kể xăng dầu) và chiếm 58% tỷ trọng tổng kim ngạch nhập khẩu. Về thị trường nhập khẩu, do cùng cơ cấu mặt hàng xuất khẩu (nông sản, tiêu dùng, dệt may, da) với các nước trong khu vực và sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam thấp nên mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sang các nước châu
Á
chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ các nước này.
Mức nhập siêu cao đặc biệt từ Trung Quốc - 6,8 tỷ USD, Đài Loan - 4,4 tỷ USD và Hàn Quốc - 3,2 tỷ USD (10 tháng đầu năm 2007).
Ngoài ra, lợi thế về vận tải, giá cả và tính phù hợp nên đa số nguyên nhiên phụ liệu và vật tư phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu như nguyên phụ liệu dệt may, da giày, phôi thép, xăng dầu, máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất và gia công hàng xuất khẩu được nhập chủ yếu từ các nền kinh tế trong khu vực, đứng đầu là Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Thái Lan. Nhập khẩu từ các khu vực phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU chủ yếu là một số máy móc thiết bị công nghệ nguồn, một số nguyên vật liệu phụ trợ.
Bộ Công Thương đã n
êu ra
4 nguyên nhân khiến cho mức nhập siêu của cả năm 2007 tăng trên 70% so với năm 2006 (12,7%).
Thứ nhất
là do nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng cao và đầu tư nước ngoài tăng mạnh. Ngoài ra, việc nhập khẩu máy móc thiết bị và nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất cho các công trình trọng điểm quốc gia cũng ở mức cao như máy bay, máy móc cho tổ hợp khí điện đạm Cà Mau, thiết bị dầu khí, thiết bị cho các nhà máy xi măng, đóng tàu.
Thứ hai
là do giá và lượng một số mặt hàng nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu tăng (giá thép thành phẩm tăng bình quân 93 USD/ tấn, phôi thép tăng 105 USD/ tấn, phân bón tăng 21 USD/ tấn, chất dẻo tăng 144 USD/ tấn, sợi các loại tăng 151 USD/ tấn, kim loại thường khác tăng 469 USD/ tấn).
Lượng nhập khẩu một số mặt hàng cũng tăng đáng kể như xăng dầu tăng 8%, thép thành phẩm tăng 35,6%, phân bón tăng 12,2%, sợi các loại tăng 26,8%... Nhìn chung, trị giá kim ngạch nhập khẩu tăng đều tập trung vào các mặt hàng nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất và xuất khẩu. Tổng giá trị tăng thêm do giá và lượng ước tính khoảng 7,5 tỷ USD.
Thứ ba
là do tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thấp hơn tốc độ tăng nhập khẩu. Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 tăng 20,5% so với năm 2006 được đánh giá là tốt nhưng mức tăng vẫn thấp hơn so với mức tăng của cùng kỳ 2006 là 22,8%. Nguyên nhân là do khối lượng và trị giá xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực đã có xu hướng chững lại và thậm chí giảm dần do những hạn chế mang tính cơ cấu như diện tích có hạn, năng suất có hạn, thời tiết không thuận lợi, yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái.
Thứ tư
là do ảnh hưởng của việc cắt giảm thuế và nhu cầu tiêu dùng, sức mua trong nước tăng cao đối với hàng hoá nhập khẩu trong năm 2007 cũng đã góp phần làm cho kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng như nguyên liệu dệt may, giày dép, ô tô và linh kiện ô tô, điện tử, nông sản thực phẩm... tăng. Ngoài các nước ASEAN, Việt Nam cũng nhập siêu lớn từ các nền kinh tế châu Á, đứng đầu là Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Ấn Độ.
Các mặt hàng nhập siêu như nguyên phụ liệu dệt may, da giày, xăng dầu, hoá chất, phân bón, sắt thép, máy móc thiết bị phụ tùng đều là nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường khác. Một thực tế là nhập siêu ở thị trường này sẽ tạo ra xuất siêu vào các thị trường khác và trong một số trường hợp góp phần thu hẹp tổng giá trị nhập siêu của các thị trường.
Mặc dù Việt Nam đã thực hiện cắt giảm thuế nhiều mặt hàng, nhưng nhập khẩu hàng tiêu dùng chỉ tăng với giá trị tuyệt đối nhỏ, chiếm tỷ trọng thấp trong tổng kim ngạch nhập khẩu do đa số các mặt hàng tiêu dùng phổ thông đã được sản xuất trong nước, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng. Lượng hàng tiêu dùng nhập khẩu khoảng 2 tỷ USD, chiếm tỷ trọng trên 3% kim ngạch nhập khẩu.



Triển lãm Kết nối Chuỗi cung ứng hàng hóa quốc tế (Viet Nam International Sourcing Expo - VIS 2026) không chỉ là nơi kết nối người mua và người bán, mà còn giúp doanh nghiệp “nghe” được nhu cầu của thị trường để điều chỉnh sản xuất, nâng chất lượng, chuyển đổi xanh và gia tăng giá trị...
Trong bối cảnh các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, EU và một phần Nhật Bản suy yếu, Trung Quốc - Hồng Kông cùng khối ASEAN đang trở thành động lực chính giúp duy trì đà tăng trưởng của ngành thủy sản Việt Nam...
Hệ thống cảnh báo nhanh của Liên minh châu Âu (RASFF) ghi nhận 10 trường hợp nông, thủy sản Việt Nam vi phạm quy định an toàn thực phẩm trong tháng 7 và tháng 8/2026, đặt ra yêu cầu cấp thiết về siết chặt kiểm soát chất lượng xuất khẩu...
Hải Phòng có 9/10 chỉ tiêu kinh tế - xã hội tháng 8 vượt kịch bản tăng trưởng, duy chỉ có chỉ số sản xuất công nghiệp là chưa đạt…
VIS 2026 là cầu nối chiến lược đưa doanh nghiệp Việt vào chuỗi phân phối toàn cầu, chuyển dịch từ xúc tiến thương mại sang kết nối cung - cầu thực chất và thu hút dòng vốn đầu tư bền vững...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.