
Sức ỳ còn lớn là nhận định của Văn phòng Chính phủ tại báo cáo tình hình thực hiện cải cách thủ tục hành chính tại các bộ, ngành, địa phương 9 tháng năm 2011.
Theo kế hoạch, việc tổ chức thực thi đơn giản hóa thủ tục hành chính nhằm từng bước sửa đổi, bổ sung hệ thống thủ tục theo phương án đã được Chính phủ phê duyệt tại 25 nghị quyết là một nội dung trọng tâm trong công tác cải cách thủ tục hành chính năm 2011.
Tuy nhiên, khi đề cập những hạn chế trong công các cải cách thủ tục hành chính, Văn phòng Chính phủ cho hay, một bộ phần cán bộ, công chức, kể cả cấp lãnh đạo chưa thấy hết vai trò của công tác cải cách thủ tục hành chính trong phát triển kinh tế xã hội, ổn định chính trị…
“Nhiều trường hợp còn bảo thủ, cố níu kéo, duy trì các quy định cũ…”, hay “sức ỳ của bộ máy hành chính các cấp trong việc thay đổi thói quen, cách làm cũ còn lớn…” là những đánh giá gay gắt mà Văn phòng Chính phủ nêu tại báo cáo.
Theo kết quả kiểm tra thực tế, một số nội dung về cải cách thủ tục tại nhiều bộ, ngành, địa phương còn chưa được coi trọng và thực hiện nghiêm túc, nhiều cơ quan chủ trì soạn thảo chưa thực hiện đánh giá tác động trước khi ban hành.
Việc công bố thủ tục hành chính và công khai quy định về thủ tục hành chính tại nơi giải quyết thủ tục hành chính cũng chưa được thực hiện theo đúng quy định. Đặc biệt, vẫn còn hiện tượng cán bộ công chức yêu cầu thêm giấy tờ, hồ sơ khi giải quyết thủ tục hành chính…
Cho nên, “việc thực thi các phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính tại các bộ, ngành, địa phương còn chậm trễ”, Văn phòng Chính phủ kết luận.
Tính đến giữa tháng 9/2011, các bộ, ngành đã ban hành theo thẩm quyền và trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản để thực thi theo thẩm quyền 3248 thủ tục hành chính (trong đó đã ban hành văn bản để thực thi theo thẩm quyền của bộ, ngành là 2048 thủ tục hành chính), đạt tỷ lệ 68% trên tổng số thủ tục hành chính phải đơn giản hóa.
Văn phòng Chính phủ cho hay, các bộ, ngành, địa phương chưa có báo cáo thực hiện Quyết định số 945/QĐ-TTg về thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực liên quan trực tiếp đến công dân và doanh nghiệp theo chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 gồm có Bộ Tư pháp, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ủy ban Dân tộc, các tỉnh Bắc Ninh, Hòa Bình, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Quảng Ninh, Bình Dương, Gia Lai, Tây Ninh và Bình Thuận.
Các bộ, ngành, địa phương đã có báo cáo thực hiện Quyết định 945 nhưng nội dung sơ sài, chưa đúng hướng dẫn hoặc không đúng thẩm quyền bao gồm Bộ Công an, Ngân hàng Phát triển Việt Nam; thành phố Hà Nội, Phú Thọ, Hà Nam, Hưng Yên, Nam Định, Đăk Nông, Nghệ An, Hà Giang, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Kon Tum.
Cũng theo Văn phòng Chính phủ, công tác cải cách thủ tục hành chính thời gian tới có thể bị chậm thêm so với tiến độ yêu cầu do nhũng khó khăn khách quan từ việc điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi văn bản luật không theo kịp yêu cầu của tiến trình cải cách.
Cụ thể, để thực hiện 25 nghị quyết của Chính phủ phê duyệt phương án đơn giản hóa trên 4.800 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành cần sửa đổi, bổ sung 27 luật, 8 pháp lệnh theo hình thức một văn bản sửa nhiều văn bản và áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.
Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 07/2011/QH13 của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012, Quốc hội mới đưa vào chương trình sửa đổi bổ sung 12 luật, 3 pháp lệnh có liên quan đến việc thực thi một số phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính. Như vậy, so với yêu cầu để thực thi 25 Nghị quyết của chính phủ, còn thiếu 15 luật, 5 pháp lệnh.
Việc chậm sửa đổi, bổ sung các luật, pháp lệnh sẽ dẫn đến việc chậm tiến độ thực thi phương án đơn giản hóa của 380 thủ tục, nhóm thủ tục hành chính thuộc 66 Nghị định của Chính phủ, 3 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và gần 100 văn bản quy phạm pháp luật của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, ảnh hưởng đến kế hoạch cải cách thủ tục hành chính và cải thiện thể chế của Chính phủ.




Chính phủ vừa hoàn thiện bộ máy Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, đặt mục tiêu xây dựng một trung tâm tài chính hiện đại, minh bạch và hội nhập quốc tế, gắn với vai trò đầu tàu của TP.Hồ Chí Minh và TP.Đà Nẵng…
6 tháng đầu năm 2026, sản xuất công nghiệp ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng 10,8%, cao nhất kể từ năm 2019. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định vai trò “đầu tàu” dẫn dắt khi tăng tới 11,4%. Kết quả này cùng với dòng vốn FDI đang “chảy” vào mạnh mẽ, sẽ tạo động lực cho ngành công nghiệp Việt Nam bứt phá trong thời gian tới.
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 đã xác lập cột mốc ấn tượng với 549,69 tỷ USD. Dù nhập siêu 16,65 tỷ USD, song kết quả này phản ánh sự phục hồi sản xuất và nhu cầu đầu vào tăng mạnh của khu vực FDI. Đây là tín hiệu tích cực để nền kinh tế tích lũy năng lực, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai chữ số.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ chủ động chiến lược, tự chủ công nghệ, mở rộng năng lực trên các không gian mới, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi tình huống.
Vượt qua những tác động từ các chính sách thuế quan quốc tế, chi phí vận hành gia tăng và các biến động địa chính trị phức tạp, khu vực doanh nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 đang cho thấy khả năng chống chịu với những khó khăn của nền kinh tế. Tuy vậy, cùng với quy luật “đào thải và tái cấu trúc” đang diễn ra với tốc độ rất nhanh, số lượng doanh nghiệp phải tạm dừng cuộc chơi cũng chạm mức cao...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Thông tin từ Bộ Tài chính cho thấy, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI sáu tháng đạt 13,03 tỷ USD, đạt mức cao nhất sáu tháng đầu năm của các năm từ 2022 đến nay. Có ba yếu tố tích cực khiến nguồn vốn FDI tăng mạnh…