
Trong quý 1/2008, các nhà in tại Hà Nội và các tỉnh phía Bắc luôn trong tình trạng thiếu giấy in báo trầm trọng. Không những thế, nhịp độ tăng giá giấy ngày càng dồn dập khiến cho các báo và nhà xuất bản khó khăn.
Nếu trong vòng nửa tháng nữa giấy in báo không được cung ứng kịp thời thì chắc chắn sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu cho các nhà in.
Theo lãnh đạo Công ty Cổ phần Giấy Tân Mai, mặc dù sản lượng giấy in báo quý 1/2008 đã đạt 11.958 tấn, vượt 6% công suất thiết kế và cung cấp ra thị trường hơn 12.630 tấn, tăng xấp xỉ 13% so với cùng kỳ năm 2007 nhưng vẫn thiếu nhiều so với nhu cầu.
Giá cả tăng mà giấy vẫn thiếu
Cũng trong quý 1, công ty đã 2 lần điều chỉnh giá. Giá giấy tháng 1/2008 là 11.949.000 đồng/tấn (đã tính VAT), tháng 2 tăng lên 12.022.500 đồng/tấn (đã tính VAT) và từ tháng 4 sẽ tăng lên tới 12.350.000 đồng/tấn (chưa tính VAT).
Ông Vũ Ngọc Bảo, Tổng thư ký Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam cho biết, ngay trong năm 2006 việc tiêu thụ giấy in báo đã gặp nhiều khó khăn, giá giấy cũng không thể không tăng. Từ đó, nhịp độ tăng giá ngày càng dồn dập, từ cuối năm 2007, giá giấy đã tăng hàng tháng. Tuy nhiên, việc tăng giá này chỉ là biện pháp nhằm giảm thiểu tổn thất kinh tế cho các nhà sản xuất trước khi buộc phải đóng cửa vì thua lỗ.
Trong khi đó, các báo và nhà xuất bản khốn đốn trước sự tăng giá đã tìm mọi cách chống đỡ từ việc giảm phụ trang, thay đổi kích cỡ cho đến chuyển rao vặt lên mạng. Đồng thời, tại thị trường châu Á, giá giấy bình quân là 580 USD/tấn vào tháng 12/2007, thì đến đầu tháng 4/2008 đã xấp xỉ 800 USD/tấn, tăng gần 40%.
Bên cạnh đó, từ 1/4/2008 những nhà sản xuất lớn của Nhật Bản đều tuyên bố giá giấy in báo sẽ tăng thêm 100 USD/tấn và từ 2/4/2008 Beijing Xinhua (Trung Quốc) cũng đã tăng giá 20% so với đầu năm 2008. Giải thích việc tăng giá giấy in báo, ông Bảo cho biết, nguyên nhân thì có nhiều nhưng trước hết phải kể đến là giá dầu tăng cao chưa từng thấy, giá than đá cũng tăng (tới 40% trong một năm như ở Ấn Độ) đẩy giá năng lượng và hóa chất tăng.
Ngoài ra, giá gỗ của Phần Lan và Nga (những nước cung ứng nhiều gỗ nhất) cũng tăng. Mặt khác, tại Canada, do các cuộc đàm phán giữa các tổ chức lâm nghiệp và nghiệp đoàn kéo dài và chưa chấm dứt cũng ảnh hưởng tới việc cung ứng gỗ nguyên liệu giấy. Bên cạnh đó, việc cấm chặt hạ gỗ nhiệt đới hỗn hợp ở Indonesia kéo dài từ năm 2006 đến nay làm giảm sút sản lượng bột gỗ cung cấp cho khu vực.
Không những thế, việc vận chuyển bằng đường biển từ Bắc Mỹ và châu Âu vào châu á gặp khó khăn cộng với việc thiếu triền miên container vận chuyển hàng đã đẩy giá vận chuyển tăng lên.
Tháo gỡ khó khăn cho giấy in báo
Mặc dù nhu cầu giấy in báo tăng cao trong những tháng đầu năm 2008, nhưng một số công ty lớn trên thế giới vẫn buộc phải đóng cửa. Trong quý 3/2007 Trung Quốc (nước sản xuất giấy lớn thứ hai thế giới) đã đóng cửa 1.569 nhà máy bột giấy và giấy do ô nhiễm môi trường và hiệu quả kinh tế thấp.
Điều đó đã làm giảm 15% công suất giấy của nước này. Ngoài ra do thiếu điện nên nhiều nhà máy nhỏ cũng không đạt được công suất dự kiến. Nhiều công ty lớn ở Mỹ, Canada, châu Âu... sản xuất cầm chừng hoặc ngừng sản xuất vô hạn định, nên cán cân cung cầu giấy in báo đã đảo chiều từ quý 3/2007.
Đối với thị trường giấy in báo trong nước, theo ông Bảo, trong quý 1/2008 nhu cầu tiêu dùng giấy in báo tăng đột biến (tăng 60% so với cùng kỳ năm 2007) nên lượng giấy in báo nhập khẩu đạt gần 21.000 tấn, tăng 2,08 lần so với cùng kỳ năm 2007.
Với đà này nhập khẩu cả năm sẽ đạt 120.000 tấn, gấp 2 lần sản xuất trong nước và khi đó mức tiêu dùng giấy in báo sẽ đạt 180.000 tấn, bằng mức tiêu dùng dự báo cho năm 2015. ở Việt Nam, từ trước tới nay chỉ có một máy xeo giấy in báo duy nhất, máy PM 3 của Công ty Cổ phần giấy Tân Mai. Đây là máy xeo giấy hiện đại của Allimand (Pháp) với công suất thiết kế 46.000 tấn/năm.
Tuy nhiên, công ty đã sản xuất vượt công suất thiết kế, đạt 58.871 tấn trong năm 2007. Công ty phấn đấu sản xuất 60.000 tấn (là sản lượng tối đa có thể) trong năm 2008. Do sản xuất giấy in báo kém hiệu quả nhất nên không ai đầu tư vào lĩnh vực này mà chỉ dồn vào đầu tư sản xuất giấy làm bao bì, giấy Tissue, giấy in và giấy viết.
Vì thế trong vòng 3 năm tới, sản xuất giấy in báo hàng năm ở Việt Nam vẫn dừng lại ở 60.000 tấn.Nếu tình hình tăng giá và thiếu giấy in báo như hiện nay tiếp tục kéo dài thêm một thời gian nữa thì các nhà in báo sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Việc các tòa soạn báo giảm lượng phát hành, rút trang là điều khó tránh khỏi.
Các nhà máy in phải chủ động
Một trong những giải pháp là tăng cường nhập khẩu giấy in báo. Lâu nay, thuế suất nhập khẩu bột giấy là 0%, thuế suất nhập khẩu giấy là 5% với giấy nhập từ các nước Asean, 30% với giấy nhập khẩu từ ngoài Asean. Nhập từ các nước Bắc Âu (khu vực sản xuất nhiều giấy nhất thế giới) thì giá quá cao. Còn nhập từ Trung Quốc thì cũng rất hạn chế và nguồn không dồi dào bằng Indonesia, Philippinnes. Trong khi Hàn Quốc và Nhật Bản đến thời điểm này vẫn chưa thể hiện được tiềm lực mạnh về xuất khẩu giấy in báo.
Đó là chưa tính đến việc các nhà sản xuất và xuất nhập khẩu giấy in báo cũng phải chịu áp lực tăng giá từ hầu hết các mặt hàng.
Theo Bà Thu, Kế toán trưởng Nhà máy in Quân đội 1 thì với giá nhập khẩu giấy hiện nay giá bán báo phải tăng đến mức nào đó thì các tòa soạn mới chịu nổi chi phí, bởi tính riêng giá giấy đã chiếm khoảng 60% giá thành mỗi tờ báo.
Ông Nguyễn Quỳnh Thắng, Giám đốc nhà máy in Nhân dân cho rằng, về lâu dài các nhà in báo cũng phải chủ động tạo nguồn vật tư, nguyên liệu vì từ trước đến nay, phần lớn các doanh nghiệp in báo vẫn quen trông chờ khách quan thuận lợi, nên khi gặp sự cố như thế này thì rất lúng túng. Từ nay rất cần có chiến lược chủ động và sự liên kết chặt chẽ, quy mô lớn hơn nữa giữa các nhà in với các nhà in, giữa các nhà in với các nhà sản xuất giấy, phân công trách nhiệm rõ ràng cho mỗi bên liên kết để hỗ trợ đắc lực cho nhau...
Trong 3, 4 năm tới tiêu dùng giấy in báo ở Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào nhập khẩu. Để thỏa mãn nhu cầu giấy in báo cần thực hiện một số biện pháp sau. Các báo, các nhà in và nhà sản xuất cần theo dõi thị trường giấy in báo để chủ động vật tư; hợp tác và hiệp lực giữa các cơ quan chức năng để giảm bớt đầu mối nhập khẩu, giảm bớt chi phí và có lợi thế về giá trong đàm phán hợp đồng; thị trường nhập khẩu quá rộng nên cần xác định thị trường chính và tập trung cho nhập khẩu.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.