Đến ngày 29/2/2024, tín dụng nền kinh tế giảm 0,72% so với cuối năm 2023. Tuy nhiên, tốc độ giảm của tháng 2 đã chậm lại (-0,05%) so với tháng 1 (-0,6%).
Ngân hàng Nhà nước.
Sáng ngày 14/3/2024, Ngân hàng Nhà nước đã có báo cáo tại Hội nghị "Triển khai nhiệm vụ điều hành chính sách tiền tệ năm 2024, tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô" do Thủ tướng chủ trì.
Theo Ngân hàng Nhà nước, đến cuối năm 2023, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 13,78% so với cuối năm 2022. Do yếu tố mùa vụ của dịp Tết Nguyên đán cùng với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế chưa cao, đến ngày 29/2/2024, tín dụng nền kinh tế giảm 0,72% so với cuối năm 2023. Tuy nhiên, tốc độ giảm của tháng 2 đã chậm lại (-0,05%) so với tháng 1 (-0,6%). Với thanh khoản dồi dào và còn rất nhiều dư địa tăng trưởng tín dụng, các tổ chức tín dụng hiện có điều kiện thuận lợi để cung ứng vốn cho vay ra nền kinh tế.
Xét theo ngành kinh tế, tạm tính đến cuối tháng 1/2024, dư nợ ngành nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 950,8 nghìn tỷ đồng (giảm 0,17%, chiếm 7,05%); công nghiệp và xây dựng đạt gần 3,46 triệu tỷ đồng (giảm 0,13%, chiếm 25,71%); thương mại dịch vụ gần 9,06 triệu tỷ đồng (giảm 0,91%, chiếm 67,23%).
Tín dụng đối với một số lĩnh vực ưu tiên tính đến cuối tháng 1/2024: (i) Lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt gần 3,3 triệu tỷ đồng, giảm 0,33% so với cuối năm 2023 và chiếm 24,36% tổng dư nợ nền kinh tế (trong đó một số ngành hàng nông sản chủ lực lúa gạo đạt trên 210 nghìn tỷ đồng, tăng 1,08%; cà phê đạt trên 119 nghìn tỷ đồng, tăng 4,11%); (ii) Doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt trên 2,4 triệu tỷ đồng (giảm 1,87%, chiếm 18,31%).
Đến ngày 29/2/2024, tín dụng nền kinh tế giảm 0,72% so với cuối năm 2023. Tuy nhiên, tốc độ giảm của tháng 2 đã chậm lại (-0,05%) so với tháng 1 (-0,6%).
Ngân hàng Nhà nước.
Trong lĩnh vực xăng dầu, hạn mức tín dụng của hệ thống ngân hàng cấp cho 31 doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối (theo danh sách từ Bộ Công thương) tạm tính là 156.173 tỷ đồng, dư nợ cấp tín dụng đạt 63.645 tỷ đồng. 31 doanh nghiệp trên mới chỉ sử dụng 41% hạn mức tín dụng được các ngân hàng thương mại cấp.
Đến cuối tháng 1, tín dụng lĩnh vực bất động sản (i) đạt khoảng 2,89 triệu tỷ đồng, tăng 0,23% so với cuối năm 2023, chiếm 21,46% tổng dư nợ nền kinh tế, tỷ lệ nợ xấu là 2,73%. Trong đó: dư nợ kinh doanh bất động sản đạt khoảng 1,11 triệu tỷ đồng, tăng 1,52%, chiếm 38,37% dư nợ tín dụng bất động sản; dư nợ bất động sản tự sử dụng/tiêu dùng đạt khoảng 1,78 triệu tỷ đồng, giảm 0,56%, chiếm 61,63% dư nợ tín dụng bất động sản.
Riêng chương trình 120.000 tỷ đồng, Uỷ ban nhân dân 28 tỉnh, thành phố đã gửi văn bản hoặc công bố công khai trên cổng thông tin điện tử với 68 dự án thuộc danh mục vay vốn của Chương trình với tổng nhu cầu vay vốn hơn 30.000 tỷ đồng. Hiện, ngoài 4 ngân hàng thương mại nhà nước, Ngân hàng Tiên phong đã đăng ký tham gia chương trình với số tiền 5.000 tỷ đồng. Các ngân hàng thương mại cam kết cấp tín dụng cho 15 dự án với số tiền cam kết là 7.000 tỷ đồng, trong đó đã giải ngân 646 tỷ đồng, cụ thể: Chủ đầu tư: 8 dự án với số tiền 640 tỷ đồng; Người mua nhà: 03 dự án với số tiền là 6 tỷ đồng.
Tín dụng đối với lĩnh vực chứng khoán đạt gần 111,3 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,83% tổng dư nợ nền kinh tế, tăng 2,56% so với cuối năm 2023.
Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống đến cuối tháng 1/2024 đạt khoảng 2,82 triệu tỷ đồng, chiếm 20,92% dư nợ nền kinh tế, giảm 1,77% so với cuối năm 2023.
Ngân hàng Nhà nước cho biết một số ngân hàng còn thận trọng trong thực hiện cấp tín dụng do nợ xấu tăng. Mặc dù nợ xấu đã được tổ chức tín dụng xử lý một bước quan trọng nhưng có xu hướng tăng do biến động tiêu cực từ tình hình kinh tế thế giới cùng những khó khăn của nền kinh tế trong nước đã tác động tiêu cực tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng trả nợ gốc/lãi ngân hàng suy giảm. Nợ xấu nội bảng của hệ thống các tổ chức tín dụng đến cuối năm 2023 là 4,55%, tăng so với mức 2,03% vào cuối năm 2022.
Tới cuối năm 2023, tỷ lệ tín dụng/GDP khoảng 133%, tăng so với mức khoảng 125% cuối năm 2022, tiềm ẩn rủi ro an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ.
Ngân hàng Nhà nước
"Về phía các ngân hàng, việc thực hiện cơ chế tài sản bảo đảm còn thiếu linh hoạt, chủ yếu dựa vào tài sản thế chấp, nhất là trong điều kiện thị trường bất động sản đang trầm lắng. Thiếu sự kết nối, tương tác, chia sẻ, hợp tác của khách hàng và ngân hàng trong việc trực tiếp trao đổi tìm biện pháp tháo gỡ khó khăn về vốn", báo cáo Ngân hàng Nhà nước nêu.
Cùng đó, huy động vốn qua cổ phiếu, trái phiếu, vốn FDI tăng thấp, những khó khăn trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản chưa được giải quyết căn cơ, triệt để... khiến cho nguồn vốn phục vụ tăng trưởng tiếp tục tập trung vào tín dụng ngân hàng, tỷ lệ Tín dụng/GDP tăng cao (cuối năm 2023 khoảng 133%, tăng so với mức khoảng 125% cuối năm 2022), tiềm ẩn rủi ro an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ.
Ngân hàng Nhà nước cho biết nhiều doanh nghiệp thu hẹp hoặc ngừng hoạt động do sức ép lạm phát, giá cả vật liệu tăng; nhiều yếu tố đầu vào, chi phí sản xuất kinh doanh cao nên không có nhu cầu vay vốn. Bên cạnh đó, trong bối cảnh kinh tế thế giới khó khăn, chính sách tồn kho của nhà nhập khẩu thay đổi (giảm trung bình từ 2-3 tháng bán hàng xuống từ 3 tuần -1 tháng), dẫn tới nhu cầu vay vốn thực hiện các đơn hàng xuất khẩu giảm.
Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế khó khăn tác động tới thu nhập của cá nhân và hộ gia đình, làm tăng nhu cầu tiết kiệm và giảm nhu cầu vay chi tiêu. Tín dụng bất động sản chiếm khoảng 21% tín dụng chung, nên tín dụng bất động sản tăng/giảm cao thường sẽ kéo theo tín dụng toàn hệ thống tăng/giảm.
Một số nhóm khách hàng có nhu cầu nhưng chưa đáp ứng điều kiện vay vốn, nhất là nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa do: (i) Quy mô vốn nhỏ, vốn chủ sở hữu và năng lực tài chính, quản trị điều hành hạn chế. (ii) Thiếu phương án kinh doanh khả thi, khả năng liên kết với chuỗi sản xuất còn hạn chế; (iii) Thông tin về tình hình tài chính thiếu minh bạch làm ảnh hưởng đến khả năng thẩm định của tổ chức tín dụng. (iv) Việc triển khai các giải pháp tăng tiếp cận tín dụng thông qua các cơ chế hỗ trợ của nhà nước (Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa...) chưa phát huy hiệu quả. (v) Sau thời gian kinh tế gặp khó khăn, mức độ rủi ro của khách hàng bị đánh giá cao hơn, doanh nghiệp khó chứng minh hiệu quả sản xuất kinh doanh để tổ chức tín dụng quyết định cho vay.
Đối với Chương trình tín dụng 120.000 tỷ đồng, các quy định pháp luật liên quan đến dự án nhà ở xã hội (quỹ đất, trình tự, thủ tục mua bán, định giá…) còn nhiều vướng mắc; số lượng dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư rất ít; một số điều kiện đối với người mua nhà không còn phù hợp.
Đối với Chương trình 20.000 tỷ đồng cho công nhân: thu nhập của người lao động sụt giảm trong bối cảnh thất nghiệp, mất việc làm tăng cao nên không có nguồn để trả nợ dẫn đến cầu tín dụng tiêu dùng giảm...; công nhân, người lao động chưa nắm bắt rõ thông tin trong khi các doanh nghiệp, công đoàn cơ sở chưa thật sự chú trọng truyền thông, phổ biến gói vay.
Một số vướng mắc qua công tác thanh tra, giám sát: Khách hàng vay có tình hình tài chính kém lành mạnh hoặc kinh doanh thua lỗ, sử dụng vốn vay sai mục đích; khả năng huy động vốn trung, dài hạn của tổ chức tín dụng còn thấp so với nhu cầu vốn dài hạn của nền kinh tế. Nguồn vốn huy động ngắn hạn chiếm đến 80% tổng nguồn vốn trong khi dư nợ cho vay trung dài hạn chiếm đến 50% tổng dư nợ cho vay. Ngoài ra, nợ xấu có xu hướng tăng, công tác xử lý nợ xấu còn khó khăn.
Đến ngày 26/10, cả nước còn 10.403 cơ sở nhà, đất dôi dư chưa hoàn thành xử lý, trong đó địa phương chiếm hơn 92%. Đáng chú ý, Gia Lai và Đà Nẵng còn gần 2.000 cơ sở tồn đọng, trong khi TP.Hồ Chí Minh mới xử lý được 5% số cơ sở cần xử lý…
Ít nhất 22 ngân hàng công bố giảm lãi suất cho vay, trong đó 15 ngân hàng đưa ra các gói tín dụng ưu đãi với tổng hạn mức hơn 451.000 tỷ đồng. Trong số này, chỉ có Agribank công bố giảm lãi suất cho cả các khoản vay đang còn dư nợ. Không có chương trình nào dành cho khách hàng cá nhân vay tiêu dùng như mua nhà, mua ô tô mà chỉ tập trung vào vốn lưu động phục vụ sản xuất, kinh doanh với kỳ hạn dưới 6 tháng...
Thông qua đối thoại và chia sẻ kinh nghiệm, các cơ quan kiểm toán tối cao (SAI) có thêm cơ sở để đổi mới, nâng cao năng lực và phối hợp hiệu quả hơn, cùng hướng tới đích đến cuối cùng là quản trị công minh bạch, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn và phát triển bền vững…
Từ 23/10/2026 đến hết tháng 12/2026, VietinBank triển khai chương trình tín dụng “Khơi nguồn tăng trưởng” với lãi suất ưu đãi chỉ từ 6%/năm, dành cho doanh nghiệp vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh với thời gian vay lên đến 6 tháng.
VietinBank triển khai chương trình khuyến mại “Đặt vé phim hay - Trúng ngay iPhone 18 Pro” trên ứng dụng VietinBank iPay Mobile.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Với thông điệp “Cà phê Hòa bình - Make coffee not war”, chuỗi hoạt động “Theo dấu chân 100 năm Cà phê Khe Sanh” kết nối những giá trị lịch sử, văn hóa và nông nghiệp. Đây cũng là dịp để Quảng Trị phát huy tiềm năng du lịch nông nghiệp, đưa câu chuyện cà phê trở thành điểm nhấn trong hành trình khám phá miền Tây của tỉnh.