
Theo Hiệp hội Phân bón, tổng cầu urê hiện nay khoảng 1,7 triệu tấn/năm, được "san lấp" bởi 800 nghìn tấn/năm từ Nhà máy đạm Phú Mỹ (PVFCCo) và Hà Bắc.
Trong 3 năm tới, có thêm 800 nghìn tấn/năm từ Đạm Cà Mau và phần còn lại coi như lấp đủ. Thế nhưng, một số dự án khác vẫn triển khai và rất có thể, bài học đầu tư thép lặp lại một lần nữa đối với urê!
Nhiều năm trước đây, urê được coi như thứ phân bón vô cơ đặc biệt không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp. Ruộng đồng có thể thiếu DAP, NPK, SA... nhưng urê thì không. Vài năm gần đây, thứ phân bón được ưa chuộng một thời này đã phải ngậm ngùi xẻ bớt thị phần cho DAP, NPK, SA, lân...
Urê đang bị "ghẻ lạnh"?
Lý do đầu tiên: Giá urê ngày càng đắt đỏ và đẩy chi phí sản xuất nông nghiệp tăng cao. Trong khi, ngoài urê, nông dân có thể sử dụng kết hợp các loại phân bón vô cơ khác, thân thiện với môi trường nhưng vẫn đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Thứ hai, do phong trào sản xuất "3 giảm, 3 tăng" (giảm lượng giống gieo sạ, phân đạm, thuốc trừ sâu; tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả...) trong nông nghiệp ngày càng phát triển nên nông dân sử dụng urê ngày càng giảm.
Thứ ba, đáp nhu cầu của thị trường, đã kéo theo xu hướng đầu tư đa dạng hóa chủng loại phân bón vô cơ. Bên cạnh các Dự án Supephotphat Lâm Thao, Phân lân Văn Điển, Ninh Bình đã có từ trước sẽ được nâng công suất thêm, còn có những nhà máy mới như DAP Đình Vũ. Nhìn chung, những nhà máy này đang chiếm thị phần lấn lướt.
Từ thực tế trên, Hiệp hội Phân bón cho biết: cách đây 5 năm, tổng cầu urê dao động từ 2,5 triệu đến 2,7 triệu tấn/năm nhưng hiện tại, con số này chỉ còn 1,7 triệu tấn! Dĩ nhiên, sự sụt giảm này không chỉ vì nguyên nhân urê bị các loại phân bón khác lấn thị phần mà còn do xu hướng "công nghiệp hóa", diện tích đất canh tác bị thu hẹp để nhường chỗ cho đô thị, khu - cụm công nghiệp. Nhưng dù với lý do gì chăng nữa, không thể không thừa nhận rằng, nhu cầu urê đang ngày càng giảm.
Theo thiết kế kỹ thuật, công suất của Nhà máy Đạm Phú Mỹ lên tới 700 nghìn tấn/năm, Đạm Hà Bắc 150 nghìn tấn/năm. Trong điều kiện sản xuất bình thường, hai nhà máy này cung cấp đều đặn tối thiểu 800 nghìn tấn/năm cho thị trường và phần nhập khẩu chỉ còn khoảng 800 nghìn tấn/năm.
Một yếu tố khác đáng quan tâm, trước kia các nhà nhập khẩu vẫn thường mở các đơn hàng từ các "chợ urê" Ucraina, Nga, vùng Vịnh thì nay, nguồn urê gần như... không giới hạn từ Trung Quốc tràn sang với giá vô cùng cạnh tranh: cao hơn chút ít hoặc ngang bằng với giá Đạm Phú Mỹ, khiến nhà máy này tại những thời điểm tồn kho lớn cũng phải phát hoảng!
Urê dư thừa, có thể xuất khẩu?
Theo dõi diễn biến đầu tư sản xuất urê hiện nay cho thấy, mặc dù 3 năm tới, vẫn cần khoảng 800 nghìn tấn nhập khẩu nhưng ngoài mốc thời gian đó, năng lực sản xuất trong nước không những đáp ứng đủ nhu cầu mà còn tính tới chuyện xuất khẩu.
Cụ thể: ngoài năng lực hiện có từ hai nhà máy trên, theo báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án Cụm Khí - Điện - Đạm Cà Mau, khoảng 3 năm nữa, Đạm Cà Mau sẽ cung cấp cho thị trường thêm 800 nghìn tấn urê mỗi năm. Bổ sung cho nguồn cung này, còn có thêm hai dự án khác là Nhà máy Đạm Ninh Bình, sử dụng năng lượng than với tổng mức đầu tư xấp xỉ 400 triệu USD, công suất 560 nghìn tấn/năm. Dự án này đã hoàn thành báo cáo khả thi và đang chuẩn bị thủ tục hồ sơ mời thầu, và sẽ khởi công trong vài năm tới.
Cùng với đó, là dự án mở rộng nâng công suất Đạm Hà Bắc từ 150 nghìn tấn năm lên 300 nghìn - 320 nghìn tấn/năm. Theo một quan chức của Bộ Công nghiệp, có nhiều khả năng, Dự án mở rộng Đạm Hà Bắc sẽ hoàn thành trước Dự án Đạm Ninh Bình.
Như vậy, trong điều kiện sản xuất bình thường, tổng sản lượng sản xuất trong nước trong những năm tới có thể lên tới 2,380 triệu tấn/năm và so với tổng cầu 1,7 triệu tấn thì mức dư thừa hàng năm lên tới 680 nghìn tấn! Nhưng đây chưa phải là con số cuối cùng vì Nhà máy Đạm Cà Mau, Phú Mỹ còn có thể mở rộng công suất. Dư thừa, đương nhiên phải tính tới chuyện xuất khẩu nhưng liệu urê "Made in Vietnam" có cạnh tranh nổi với urê Trung Đông, Nga hay Trung Quốc?
Phải thấy rằng, những nhà máy sản xuất urê từ các trung tâm lớn trên thế giới luôn đạt sản lượng tới 1,2 triệu tấn/năm, sự phân bổ chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm đạt mức tối ưu nên giá thành sản xuất thấp, tính cạnh tranh rất cao.Cũng từ thực trạng trên, khiến người ta không thể không liên tưởng đến kiểu đầu tư phong trào lâu nay như ô tô, mía đường và đặc biệt là ngành thép. Từ chỗ sản lượng thép xây dựng hàng năm phải nhập khẩu tới 50% nhưng chỉ mấy năm sau, nguồn cung thép xây dựng đã gấp đôi tổng cầu. Khi miếng bánh thị phần co lại, các doanh nghiệp trong ngành thép phải cạnh tranh rất quyết liệt.
Xin kể câu chuyện: Công ty Thép VĐ phát hành cổ phiếu tăng vốn đầu tư. Một nhà phân phối thép rất muốn trở thành cổ đông chiến lược của VĐ nhưng doanh nghiệp thép HP - đối thủ cạnh tranh của VĐ đã "nhắc nhở" nhà phân phối kia rằng: nếu mua cổ phiếu của doanh nghiệp VĐ sẽ chấm dứt mọi quan hệ làm ăn! Mặc dù, sự dư thừa thép xây dựng đã lâu nhưng xuất khẩu vô cùng khó khăn. Mãi gần đây mới có một lô hàng thép vằn của Công ty thép miền Nam xuất khẩu sang Mỹ. Còn trước đó, xuất khẩu sản phẩm thép xây dựng sang Lào, Campuchia chẳng đáng kể.
Liệu đầu tư các dự án urê có đi vào "vết xe đổ" của các dự án đầu tư vào ngành thép?




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.