
VnDirect vừa có báo cáo cập nhật nhóm ngân hàng trong đó điểm nhấn là vào cuối Q3/2023, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống tăng 7,0% so với đầu năm - thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng tín dụng hệ thống 11,0% so với đầu năm vào cuối Q3/22, nhưng đã tăng đáng kể từ mức 4,48% vào cuối tháng 8/2023.
Trong Q3/23, xu hướng tăng trưởng khác nhau giữa các Ngân hàng Quốc doanh và Ngân hàng Thương mại Cổ phần (NHTMCP). Đặc biệt, nhóm Ngân hàng Quốc doanh (VCB, BID) có mức tăng trưởng tín dụng khiêm tốn lần lượt là 1,0%/1,4% so với quý trước, thấp hơn đáng kể so với mức tăng trưởng tín dụng trung bình 2,4% so với quý trước (top 25 Ngân hàng niêm yết lớn nhất).
Tăng trưởng tín dụng yếu là kết quả của nhu cầu tín dụng yếu do nền kinh tế vẫn chưa thực sự hồi phục và khẩu vị rủi ro cho vay của các ngân hàng này thấp. Trong khi đó, một số NHTMCP lại chứng kiến mức tăng trưởng tín dụng mạnh với trọng tâm là cho vay khách hàng doanh nghiệp (VPB: 6,4% so với quý trước, VIB: 4,6%, LPB: 4,0%).
Trong Q4/23, VnDirect tin rằng các Ngân hàng có tỷ trọng cho vay khách hàng doanh nghiệp lớn và hạn mức tăng trưởng tín dụng lớn (VPB, MBB, HDB) sẽ duy trì vị thế dẫn đầu về tăng trưởng tín dụng trong ngành. VnDirect giữ nguyên dự báo tăng trưởng tín dụng 10% cho năm 2023, tăng từ mức 7,0% vào cuối Q3/23, nhưng vẫn thấp hơn mức mục tiêu 14% mà Ngân hàng Nhà nước đặt ra.
Tổng NIM của 25 ngân hàng niêm yết đã giảm 47 điểm cơ bản xuống 3,32% so với cùng kỳ trong Q3/23 với 22/25 Ngân hàng có NIM giảm so với cùng kỳ do tốc độ tăng lãi suất cho vay thấp hơn tốc độ tăng của chi phí huy động để hỗ trợ khách hàng của các Ngân hàng này, điều này phù hợp với khuyến nghị của Ngân hàng Nhà nước.
Trong số các Ngân hàng TMCP vốn hóa vừa và lớn, chỉ có STB, VIB và CTG là có khả năng duy trì NIM ổn định hoặc cao hơn so với cùng kỳ. Đặc biệt, VIB và CTG đã tận dụng việc cho vay liên ngân hàng với tỷ trọng cao so với cùng kỳ (các ngân hàng đã có tỷ lệ này thấp nhất kể từ 2022) trong cơ cấu nguồn vốn để giảm chi phí vốn (COF). Với STB, không còn áp lực từ lãi dự thu đã thúc đẩy NIM tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2023.
Trong khi đó, NIM của các Ngân hàng có tỷ trọng sở hữu trái phiếu doanh nghiệp cao như VPB, TCB tiếp tục giảm nhiều nhất. Tuy nhiên, có một tín hiệu tích cực khi COF của cả ngành giảm 33 điểm cơ bản so với quý trước trong Q3/23, quý giảm so với quý trước đầu tiên kể từ Q1/22. Điều này chủ yếu nhờ vào nguồn huy động chi phí thấp bắt đầu có hiệu quả và tỷ lệ CASA tăng cao hơn (từ 18,1% cuối Q2/22 lên 18,9% cuối Q3/23).
Trong Q4/23, VnDirect kỳ vọng COF sẽ giảm hơn nữa nhờ tiền gửi chi phí thấp sẽ chiếm tỷ trọng cao hơn trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng (lãi suất tiền gửi đã giảm đáng kể 40-100 điểm cơ bản ở tất cả các kỳ hạn trong Q3/23). Tuy nhiên, NIM có thể sẽ không cải thiện ngay lập tức trong bối cảnh nhu cầu tín dụng còn yếu như hiện tại.
Một số ngân hàng sở hữu tỷ trọng cho vay cá nhân cao và tỷ lệ huy động bằng đồng USD thấp sẽ có cơ hội cải thiện NIM tốt hơn so với các NH khác. Trong năm 2024, VnDirect tin rằng NIM sẽ có khả năng phục hồi nhờ nhu cầu tín dụng quay trở lại cùng với sự tăng trưởng kinh tế.
Tỷ lệ nợ xấu (NPL) của top 25 ngân hàng niêm yết lớn nhất tiếp tục duy trì xu hướng tăng lên 2,24% tại cuối Q3/23 - mức cao nhất kể từ năm 2017. Tuy nhiên, tỷ lệ LLR chỉ giảm nhẹ xuống còn 94% vào cuối Q3/23 so với 98% vào cuối Q2/23 – bằng với mức cuối năm 2020, điều này cho thấy bộ đệm dự phòng tốt hơn của ngành trong những năm qua.
Ngoài ra, có một tín hiệu tích cực khi tổng % nợ nhóm 2 giảm đã xuống còn 2,3% vào cuối Q3/23 so với 2,5% vào cuối Q2/23, cho thấy sự hình thành nợ xấu đang chậm lại.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hoạt động kinh tế còn đang khó khăn, VnDirect tin rằng chi phí dự phòng sẽ tiếp tục bào mòn lợi nhuận của các ngân hàng trong những quý tới. Do đó, các ngân hàng được quan tâm gồm các ngân hàng có bộ đệm dự phòng cao (VCB: 270%, CTG: 172%, BID: 158%) vì những ngân hàng này sẽ chịu ít áp lực hơn về trích lập dự phòng so với các ngân hàng khác.




Ông Saylor cũng cho biết Strategy dự kiến sẽ đẩy mạnh việc mua vào bitcoin, đồng thời phát hành thêm các loại chứng khoán để huy động vốn cho hoạt động này...
Lượng trái phiếu kho bạc và trái phiếu cơ quan liên bang Mỹ do Canada nắm giữ đã tăng gấp hơn 4 lần trong 5 năm, khiến nhiều chuyên gia Phố Wall đặt nghi vấn rằng một phần đáng kể số tài sản này có thể thuộc về Trung Quốc...
Chỉ trong một quý, công ty tài sản này thu hút được lượng vốn ròng 205 tỷ USD...
Dòng tiền bắt đáy có tín hiệu hoạt động mạnh hơn, kéo nhiều cổ phiếu phục hồi tích cực đã giúp VN-Index “cầm cự” được quanh mốc 1700 điểm. Ngay cả khi không tính đến sức mạnh của trụ, giao dịch cũng khá mạnh khi cổ phiếu phân hóa, hơn là giảm cả loạt.
Dòng tiền vào các quỹ trái phiếu tiếp tục duy trì trạng thái rút ròng trong tháng 8/2026, đánh dấu tháng thứ 12 liên tiếp bị rút vốn. Tuy nhiên, quy mô rút ròng đã thu hẹp đáng kể, cho thấy áp lực rút vốn đang có dấu hiệu giảm dần.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.