
Hỏi chuyện ông Lê Thế Bảo, Chủ tịch Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam
.
Xin ông cho biết những hoạt động của chúng ta trên mặt trận chống hàng nhái, hàng giả?
Thời gian qua, Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam (VATAP) đã phối hợp với nhiều doanh nghiệp và các cơ quan chức năng trong lĩnh vực chống hàng nhái, hàng giả.
Tuy nhiên, đây là công tác phức tạp đòi hỏi phải bền bỉ, lâu dài. Chúng ta không thể nhìn vấn đề theo tháng, bởi lẽ có những sự vụ kéo dài từ một đến hai năm. Trong năm 2007, chúng tôi đã kết hợp với các doanh nghiệp trong và ngoài nước tổ chức các hội thảo nhằm nâng cao nhận thức của người Việt Nam về hàng giả, nâng cao ý thức phòng chống.
Ngoài ra, chúng tôi còn liên tiếp phát hiện hàng nhái, hàng giả trong nhiều lĩnh vực. Đồng thời, kiến nghị với các cơ quan nhà nước để xử lý hàng giả, hàng nhái trong lĩnh vực gas, các sản phẩm may mặc của các công ty may mặc lớn thường bị làm giả, làm nhái nhãn hiệu, nhái bao bì. Hiệp hội cũng đã phát hiện và báo cáo với Thủ tướng Chính phủ về vấn đề dược phẩm và mỹ phẩm và đề cập rõ vấn đề, thực trạng thuốc chữa bệnh trên thị trường.
Đặc biệt, hiệp hội đã có văn bản kiến nghị Thủ tướng Chính phủ và được Thủ tướng Chính phủ cho phép lấy ngày 29/11 hàng năm là cái ngày phòng chống hàng nhái, hàng giả. Ngoài ra, chúng tôi thường xuyên xây dựng, bảo vệ, và quảng bá thương hiệu cho các doanh nghiệp hội viên.
Thế nhưng, tình trạng làm hàng giả, xâm phạm thương hiệu vẫn có những diễn biến hết sức phức tạp, ông đánh giá như thế nào?
Quả thật, nạn làm hàng nhái, hàng giả ở Việt Nam đang diễn ra khá phổ biến. Nhiều sản phẩm trong nước làm nhái của nhau, nghiêm trọng hơn là tình trạng hàng nhái từ nước ngoài đang nhan nhản trên thị trường.
Trước đây, phải 8 tháng thì mới làm nhái được sản phẩm, nhưng bây giờ chỉ mất 1 tháng. Một sản phẩm có uy tín bị làm nhái từ nước ngoài, chỉ sau một tháng là tràn ngập thị trường Việt Nam. Tốc độ làm nhái, làm giả bây giờ nhanh hơn trước rất nhiều.
Hiện trên thị trường đang có hai kênh: kênh từ nước ngoài đưa vào và kênh trong nước tự làm nhái của nhau. Rất nhiều loại mỹ phẩm chăm sóc da, tóc cũng bị làm nhái, làm giả. Chỉ sau 1 tháng sản phẩm OLAY được lưu thông trên thị trường, thì hàng giả, hàng nhái đã xuất hiện tràn lan khắp cả nước, bày bán công khai. Việc làm hàng giả hàng nhái này được tổ chức sản xuất với quy mô lớn từ nước ngoài rồi tìm cách đưa vào Việt Nam, chủ yếu qua đường biên giới.
Mặt hàng OLAY của công ty P&G thường bị làm giả bao gồm các sản phẩm kem dưỡng da hoàn hảo, kem dưỡng da chống nắng, kem làm trắng da. Tương tự, các sản phẩm Sunsilk, P/S, Dove, Clear, Pond’s nổi tiếng của Unilever Việt Nam; mỹ phẩm chăm sóc tóc Wella của Công ty TNHH Nam Đạo bị làm giả từ nước ngoài đưa vào...
Trước thực trạng này, VATAP đã có những hành động như thế nào để ngăn chặn nạn làm hàng nhái, hàng giả?
Chúng ta đều nhận thấy bà con kinh doanh tại các chợ, cửa hàng vẫn chưa ý thức đầy đủ về lĩnh vực này. Họ không phân biệt được thế nào là vi phạm sở hữu trí tuệ hàng giả, hàng nhái. Vì thế, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cần phối hợp với VATAP và các lực lượng chức năng mở các đợt tuyên truyền tới tiểu thương các chợ để họ có ý thức tốt hơn.
Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cũng cần phải hỗ trợ các lực lượng kiểm tra, kiểm soát trong công tác giám định hàng giả và thông tin về hàng giả. Các lực lượng kiểm tra, kiểm soát cần phải có các biện pháp chống cho được tình trạng bảo kê cho bọn buôn lậu, làm hàng giả nói chung và đặc biệt lưu ý phát hiện và xử lý nghiêm tình trạng bảo kê trên địa bàn (biết mà làm ngơ, bảo kê cho người thân quen, lợi dụng chức vụ gây khó dễ cho doanh nghiệp...).
Công tác kiểm tra, kiểm soát phải có hiệu quả, làm đúng quy trình của pháp luật, phải làm tốt công tác điều tra, xác minh đúng các ổ nhóm làm hàng giả và đưa hàng giả từ nước ngoài về Việt Nam. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng công tác thanh tra, kiểm tra thị trường của chúng ta vẫn còn tản mạn, không đồng bộ.
Bên cạnh đó, công tác phối hợp giữa các lực lượng còn mang tính hình thức. Hàng năm cũng có tổ chức các đoàn kiểm tra địa phương nhưng chỉ dừng lại ở mức nắm tình hình, hiệu quả đem lại không đáng kể, lại tốn kém cho nhà nước.
Theo ông, làm thế nào để khắc phục những tồn tại và yếu kém đã nêu?
Đây cũng chính là mục tiêu mà chúng tôi đang rất quan tâm. Chẳng hạn như làm sao để đơn giản hoá thủ tục hành chính trong thanh tra, kiểm tra, kiện toàn quy trình thực thi pháp luật.
Bởi quy trình thực thi pháp luật tuy nằm rải rác ở một vài văn bản có quy định (như pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính) nhưng vẫn chưa cụ thể, rõ ràng. Bên cạnh đó, chế tài xử phạt còn nhẹ, theo tôi cần xử lý nghiêm minh theo pháp luật hình sự.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.