
Dịch vụ chuyển mạng giữ nguyên số (MNP) chính thức được áp dụng từ 16/11/2018. Tuy chưa phải là một thị trường dịch vụ hoàn hảo do mới chỉ áp dụng cho thuê bao trả sau, nhưng đây sẽ là phép thử đầu tiên của nhà mạng trong việc "giữ chân" thuê bao.
Vì sao lại chưa áp dụng với thuê bao trả trước? Câu hỏi này chắc chắn sẽ được đặt ra và được cơ quan quản lý trả lời cụ thể tại buổi họp báo về triển khai dịch vụ chuyển mạng giữ số chiều nay, 13/11, tại Bộ Thông tin và Truyền thông.
Theo kế hoạch trước đó, sau ba tháng đầu áp dụng với thuê bao trả sau sẽ chính thức triển khai với thuê bao trả trước. Nghĩa là các thuê bao trả trước – hơn 115 triệu thuê bao, chiếm tới trên 93% trong tổng số thuê bao di động hiện nay sẽ phải đợi đến ngày 16/2 mới có thể được trải nghiệm dịch vụ này. Tuy nhiên, theo nguồn tin chưa chính thức của VnEconomy, có khả năng ngay đầu năm 2019, cơ quan quản lý sẽ áp dụng dịch vụ MNP với thuê bao trả trước.
Việc mới triển khai MNP với thuê bao trả sau sẽ chưa phải là một dịch vụ hoàn hảo và đúng nghĩa bởi số lượng thuê bao này hiện rất ít, hơn nữa, đặc điểm và tính chất của thuê bao trả sau, như các cam kết hợp đồng, cam kết gói cước với nhà mạng, là thuê bao trung thành ít có sự thay đổi… nên cũng sẽ chưa phản ánh đầy đủ nhất của nhu cầu người dùng vào dịch vụ MNP. Nhưng đây sẽ là phép thử đầu tiên của nhà mạng để nhận biết tín hiệu về xu hướng "dịch chuyển" của thuê bao, từ đó có những chính sách điều chỉnh kịp thời trước khi một làn sóng "dịch chuyển" lớn, thực sự ở nhóm thuê bao trả trước có thể ập đến.
Đại diện một nhà mạng (đề nghị không nêu tên), cho biết, ở góc độ doanh nghiệp, lý do mà các nhà mạng đưa ra và thống nhất chưa áp dụng với thuê bao trả trước bởi nếu triển khai chuyển mạng giữ số liền lúc cho cả trả trước và trả sau có thể số lượng thuê bao di chuyển sẽ ồ ạt nên các mạng lo ngại hệ thống chuyển mạng hoàn toàn mới, rồi trình tự, thủ tục… sẽ khó kiểm soát nên cần một bước đi thử nghiệm.
Ngoài ra, vị này cũng cho rằng, do thuê bao trả sau ít, lại là những thuê bao "ngại di chuyển" nên mức độ chuyển mạng cũng sẽ ít hơn. Ngoài ra, những thuê bao trả sau có những cam kết gói cước với nhà mạng thì việc chuyển mạng cũng có những ràng buộc và điều kiện nhất định, chẳng hạn như phải dùng hết gói cước cam kết trong thời gian 3 hay 5 năm thì mới được chuyển.
Một số tính toán từ nhà mạng, cho biết, trên thế giới, xu hướng MNP thông thường sẽ dịch chuyển từ 10-15% lượng thuê bao trên thị trường, và mỗi nhà mạng trung bình sẽ có sự dịch chuyển 5 - dưới 10% lượng thuê bao. Vì vậy, những mạng có lượng thuê bao lớn như Viettel – khoảng 50 triệu thuê bao, hay VinaPhone và MobiFone có khoảng 20 – 30 triệu thuê bao, thì việc chỉ cần 5-7% thuê bao rời mạng cũng đã mất đi hàng triệu thuê bao, khi đó sẽ tác động không nhỏ đến thị phần, doanh thu và lợi nhuận của các nhà mạng.
Một số quốc gia và vũng lãnh thổ trên thế giới khi triển khai MNP, có những nhà mạng đang đứng vị trí số 3 đã vươn lên vị trí thứ 2. Xu hướng dịch chuyển của thuê bao đã giúp cho nhà mạng thay đổi thị phần, thứ hạng trên thị trường.
Sự dịch chuyển của thuê bao (khi triển khai MNP) theo tỷ lệ kể trên chỉ xảy ra khi áp dụng với cả thuê bao trả trước, khi vốn chiếm tỷ trọng đa số, là những thuê bao ít có sự cam kết với nhà mạng, ưa thích sự linh hoạt, những gói cước giá rẻ, dung lượng dữ liệu (data) lớn, thích công nghệ mới… do vậy, việc mới áp dụng cho thuê bao trả sau được xem là phép thử cho mỗi nhà mạng cho mục đích đầu tiên là "giữ chân" thuê bao và đảm bảo lượng chuyển đi ít nhất có thể.
Tất nhiên, thách thức luôn đi kèm cơ hội. Ngoài nguy cơ mất một lượng lớn thuê bao thì các nhà mạng cũng có thể thu hút được hàng triệu thuê bao mới. Thuê bao chuyển đến khi thấy giá cước của nhà mạng đó rẻ, chất lượng dịch vụ tốt, chính sách chăm sóc khách hàng chu đáo, có nhiều dịch vụ giá trị gia tăng tiện ích, công nghệ mới và thương hiệu của nhà mạng.
Ngược lại, thuê bao chuyển đi khi nhà mạng đang dùng thiếu các yếu tố này hoặc không bằng so với mạng chuyển đến, và thường khi thuê bao đã bức xúc, chán không muốn dùng dịch vụ của nhà mạng hiện dùng nữa – mà thực tế lượng thuê bao này khá nhiều, chủ yếu là những thuê bao lâu năm - thì việc "giữ chân" thuê bao là vô cùng khó khăn.
Từ giai đoạn hình thành ý tưởng sản phẩm, xây dựng kiến trúc hệ thống, thiết kế kiến trúc vi mạch đến các công đoạn kỹ thuật chuyên sâu như thiết kế vật lý (physical design), thiết kế phục vụ kiểm thử (DFT),... đều đã có sự tham gia của kỹ sư Việt Nam.
Tỷ lệ sử dụng IPv6 của Việt Nam đạt khoảng 70%, đứng thứ 7 thế giới và thứ 2 ASEAN, cao gấp 1,6 lần mức trung bình thế giới, với khoảng 95 triệu thuê bao Internet băng rộng hoạt động trên IPv6...
Trong bối cảnh khan hiếm chip nhớ đẩy chi phí sản xuất lên cao, thế hệ iPhone tiếp theo của Apple cùng nhiều sản phẩm khác như iPad và MacBook có thể sẽ có giá bán cao hơn...
Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng, việc Đà Nẵng ban hành nghị quyết về thực hiện thử nghiệm có kiểm soát các giải pháp công nghệ mới trên địa bàn thành phố, nhằm tạo ra một môi trường thử nghiệm và đánh giá các sản phẩm, mô hình công nghệ mới trước khi đưa vào ứng dụng rộng rãi là vô cùng cần thiết…
Suốt 35 năm đồng hành cùng dòng chảy kinh tế đất nước và các doanh nghiệp, sự tin cậy từ những dòng dữ liệu xác thực đã định hình nên vị thế vững chắc của Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy. Tuy nhiên trong kỷ nguyên mà thông tin không còn khoảng cách và công nghệ đang tái định hình xã hội, dòng chảy tri thức ấy không thể là những con số đứng yên...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.