
Thời gian gần đây, tại một số hội thảo và diễn đàn, người ta bàn nhiều đến vấn đề nhân cách thương hiệu (brand personality). Đặc biệt, trong giai đoạn có nhiều vụ tại tiếng liên quan đến một số thương hiệu lớn, vấn đề nhân cách thương hiệu lại càng được quan tâm.
Tựu trung, phần lớn các ý kiến cho rằng một thương hiệu muốn thành công phải có một nhân cách đàng hoàng, biết vì lợi ích cộng đồng, không gây hại cho môi trường... Và một thương hiệu “có nhân cách” được hiểu là một thương hiệu biết sống tốt, có đạo đức, và biết thấu hiểu nhân cách tiêu dùng…
Cách hiểu về nhân cách thương hiệu như trên tuy mang tính hướng thiện, với mong muốn mọi thương hiệu phải có “nhân cách tốt”, nhưng quả thật còn mang tính khiên cưỡng khi bản chất của cụm từ “brand personality” lại không bao hàm ý nghĩa như vậy.
Philip Kotler, ông tổ của marketing hiện đại, và Kevin Lane Keller, Giáo sư marketing của Đại học Dartmouth, đều định nghĩa: “A brand personality is the specific mix of human traits that may be attributed to a particular brand”, tạm dịch, “nhân cách thương hiệu là một tổng hợp đặc trưng những nét tiêu biểu của con người mà thương hiệu đó có thể có”.
Ở đây, thương hiệu đã được nhân cách hóa lên như một con người. Con người này có những nét tiêu biểu nào thì đó chính là tính cách của thương hiệu. Và những “nét tiêu biểu” ở đây không bao hàm ý nghĩa phải tốt hay xấu, quân tử hay tiểu nhân, hào hiệp hay keo kiệt...
Những “nét tiêu biểu” này tạo nên sự độc đáo, khác biệt của thương hiệu, chứ không nhất thiết phải “tốt” hay “xấu” như cách nhận định chung chung về một con người.
Xin nêu một số ví dụ minh họa cho sự đa dạng của nhân cách (mà về bản chất là tính cách) thương hiệu, thay vì chỉ có một hình mẫu chung chung cho mọi thương hiệu là phải “đạo đức”, “đàng hoàng”, “vì lợi ích cộng đồng”…
Marlboro có “brand personality” được xây dựng như một chàng cao bồi ngang tàng, lãng tử, thích tự do, yêu cuộc đời lang bạt; trong khi Virginia Slims lại là một cô gái đầy nữ tính. Mercedes là người đàn ông trung niên, thành đạt và đạo mạo, cổ điển; trong khi BMW là chàng trai trẻ thành đạt, hào hoa. IBM được cho là “già hơn”; trong khi Apple được cho là “trẻ hơn”.
Heineken xây dựng tính cách thương hiệu qua hình ảnh những chàng trai, cô gái gây luôn gây sự ngạc nhiên đến bất ngờ, thậm chí có khi gây phản cảm, theo kiểu “Chỉ có thể là Heineken!”; trong khi Dutch Lady là một cô gái Hà Lan khỏe mạnh, năng động và chăm chỉ.
Có những tính cách thương hiệu gây sốc vì tập trung vào giới trẻ. Những thương hiệu thời trang hip-hop có tính cách của những chú nhóc mới lớn nghịch ngợm, có khi ngổ ngáo, muốn có phong cách riêng, dù không giống ai; trong khi Piere Cardin lại là người đàn ông chững chạc, lịch thiệp...
Nhân cách thương hiệu không hề là tốt hay là xấu mà quan trọng là thể hiện phong cách (style) riêng nào để khỏi “đụng hàng”. Bản thân thương hiệu không có đạo đức hay bất nhân. Đạo đức hay bất nhân là ở người chủ thương hiệu, ở doanh nghiệp sở hữu thương hiệu đó. Đừng bắt mọi doanh nghiệp phải xây dựng một nhân cách thương hiệu như nhau theo nghĩa thương hiệu phải có nhân cách đàng hoàng, đạo đức…
Điều này là không tưởng vì như trên đã nói, thương hiệu có thể ngổ ngáo, ngang tàng hoặc điềm đạm, lịch sự; có thể mạnh mẽ, đầy nam tính hay dịu dàng, đầy nữ tính. Một thương hiệu có tính cách của một con người hiền từ, nhân hậu chưa hẳn đã thành công nếu như không mang lại lợi ích (lý tính và cảm tính) thực sự cho nhóm khách hàng mục tiêu. Ngược lại, một thương hiệu ngổ ngáo, ngang tàng vẫn có thể thành công, nếu đáp ứng nhu cầu thị hiếu của một bộ phận khách hàng thích phong cách sống này.
Cần đòi hỏi cao hơn về nhân cách doanh nhân và đạo đức kinh doanh hơn là gán cho mọi thương hiệu một nhân cách “hình mẫu” chung chung đầy khiên cưỡng. Sự đa dạng của nhân cách thương hiệu là hết sức cần thiết để đáp ứng sự đa dạng của nhu cầu và phong cách sống của khách hàng. Chuyện gì sẽ xảy ra, nếu mọi thương hiệu đều xây dựng cho mình một nhân cách giống nhau là “thơm, ngon, bổ, rẻ” hoặc “có lợi cho sức khỏe”?
Nguyễn Hữu Long
(TBKTSG)
Dù Việt Nam tiệm cận mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân với khoảng 95% dân số tham gia, người bệnh vẫn phải gánh vác tới gần 40% chi phí y tế từ “tiền túi”, gấp 4 lần so với mức khuyến nghị của WHO. Vì vậy, giải pháp đột phá cho giai đoạn tiếp theo không nằm ở việc tiếp tục mở rộng độ bao phủ dân số, mà là nâng cao mức độ bảo vệ tài chính thực chất thông qua ứng dụng kinh tế dược học và đánh giá công nghệ y tế...
Lạng Sơn đang tìm cách tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đổi mới mô hình phát triển, chuyển đổi số và xanh hóa nền kinh tế để đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP đầy thách thức trong năm 2026…
Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với TS.Vũ Việt Anh về câu chuyện thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ cũng như năng lực Lab-to-Market (L2M), đưa sản phẩm “từ phòng lab ra thị trường” của startup và xu hướng “doanh nghiệp một người” trong kỷ nguyên AI.
Sau nửa thế kỷ phát triển, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM) không chỉ góp phần đưa công nghệ hạt nhân vào y tế, nông nghiệp, công nghiệp và môi trường mà còn đang chuẩn bị nguồn nhân lực, công nghệ và hạ tầng để đồng hành cùng Chương trình điện hạt nhân quốc gia trong giai đoạn mới.
Chỉ còn chưa đầy 6 tháng trước khi Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) được thực thi đầy đủ. Thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở tiêu chuẩn kỹ thuật mà ở tư duy, sự minh bạch và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, việc xây dựng dữ liệu vùng nguyên liệu chính xác là điều kiện tiên quyết để bảo vệ uy tín của ngành cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.